Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 23 khách Trực tuyến
Lý luận phê bình
Từ “Mầm đắng” nghĩ về mảng đề tài dân tộc và miền núi *

Trong dòng mạch văn học nước nhà, bộ phận văn học khai thác đề tài dân tộc thiểu số và miền núi là một dòng chảy tuy không ồn ào, mạnh mẽ nhưng chứa nhiều ẩn số thú vị, hứa hẹn những phát hiện độc đáo. Tiếp nối thành công của thế hệ nhà văn lớp đầu như Thế Lữ, Lan Khai, Tô Hoài, Nguyên Ngọc hay sau này với Nông Minh Châu, Triều Ân, Vi Hồng, Mã A Lềnh, Sa Phong Ba, Inrasara… nhiều cây bút trẻ (cả về tuổi đời và tuổi nghề) đang hăm hở khẳng định mình với hi vọng trở thành những người kế tục xứng đáng, Tống Ngọc Hân là một trong số đó.

Tống Ngọc Hân sinh năm 1976 ở Phú Thọ nhưng chị gắn bó với Sa Pa và chung thủy với mảnh đất này, nhờ thế, Sa Pa hào phóng, mở lòng mình với chị. Nếu ai đã đọc tập thơ đầu tay “Những nét vân tay” (2007) hay từng đôi lần lật giở những trang truyện ngắn trong các tập “Khu vườn yên tĩnh” (2009), “Hồn xưa lưu lạc” (2014) hẳn nhận ra ngay chất núi rừng, hoang hoải của nắng gió, của rừng, của ruộng bậc thang và của con người miền Tây Bắc thấm qua từng trang viết của chị. Sa Pa đẹp thơ mộng, trong trẻo, mát lành…nhưng đấy là qua con mắt của các công ty lữ hành và khách du lịch! Qua truyện ngắn của Tống Ngọc Hân, đặc biệt là “Mầm đắng”, ta sửng sốt nhận ra một Sa Pa khác, một Tây Bắc khác – vùng đất của thiên tai, nghèo đói, thất học cùng nhiều hủ tục.

Cùng với các truyện ngắn “Nước mắt để dành”, “Lửa cười lửa khóc”, “Hồn xưa lưu lạc”… “Mầm đắng” nối tiếp mạch miêu tả về “một vùng văn hóa, một tộc người, một phong tục đậm nét” bằng việc khắc họa chân thực cuộc đời của một cô gái người Giáy thông minh, bản lĩnh với khát vọng được học, được có nghề nghiệp, được đi nhiều nơi và kết giao nhiều bạn nhưng cuối cùng lại trở thành nạn nhân của nạn “đẻ thuê”.

Câu chuyện được kể bởi một người kể chuyện xưng “tôi”, tự kể về cuộc đời mình, nhờ thế câu chuyện cô kể trở nên đáng tin cậy. Các chi tiết trong truyện cho phép độc giả hình dung về một cô gái có gia cảnh nghèo khó, là con út trong gia đình có chín anh chị em sau mười ba lần sinh nở của bà mẹ. Trong khi các chi tiết nhỏ nhặt được miêu tả rất kĩ (chi tiết buộc giẻ vào đuôi trâu cho khỏi bị lẫn, chi tiết về cái quần rách, về việc “đến tháng” của chị em phụ nữ…) thì tên của các nhân vật chưa một lần được gọi ra, có lẽ tên gọi là một thứ xa xỉ và ít cần thiết nhất ở vùng này. Cái nghèo, cái đói, sự thất học và nạn sinh đẻ vô tội vạ được tác giả ngầm đưa ra để giải thích cho điều này qua đoạn tự sự nhẹ nhàng mà chua chát: “Mà mẹ cũng hay, ngày tháng năm sinh của chúng tôi, đứa nào có, tự nhớ lấy…Mẹ hay sai bảo tất cả chúng tôi bằng tên chung: “Chúng mày…”. Chín đứa cũng “chúng mày”, mà có một đứa mẹ cũng “chúng mày” chứ chả gọi đến tên riêng bao giờ”. Chứng kiến sự phát triển của nhân vật theo thời gian liên tiến của câu chuyện ta thấy được sự trưởng thành dần về mặt nhận thức của một cô gái miền núi: có khát vọng chính đáng, tìm mọi cách vượt lên hoàn cảnh, dám chấp nhận thay đổi và đối mặt thử thách…Tất cả những suy nghĩ ấy làm cô khác với đa số những người phụ nữ còn lại ở nơi đây, những người bà, người mẹ, người chị mà như cô thấy chỉ biết cam chịu, sống tù túng, quanh quẩn. Nhưng có lẽ cũng chính bởi những suy nghĩ “khác với đa số” ấy khiến cô rơi vào bi kịch – bi kịch của sự ý thức! Giá cô cứ cam chịu, cứ nghe theo sự sắp đặt của bố, không khát chữ, khát bạn, không táo bạo và quyết liệt thì có lẽ cô cũng sẽ được như các chị của mình: lấy một anh chồng học gần hết cấp hai, đẻ hai đứa con theo quy định của nhà nước, và quanh năm suốt tháng chỉ trung thành với hành trình “từ nhà lớn xuống bếp, từ bếp ra đồng, từ đồng về nhà”.

Bên cạnh nhân vật trung tâm, không khó để nhận ra một biểu tượng nghệ thuật đầy tính ẩn dụ cứ trở đi trở lại trong những thời khắc quan trọng của cuộc đời nhân vật - mầm đắng. Những mầm măng đắng là một phần không thể thiếu trong đời sống của con người nơi đây. Trẻ con ở đây lớn lên cùng đàn trâu và mùa măng, giá trị cái quần cái áo của chúng được quy ra bằng những sọt măng. Măng đen gắn với khát vọng đổi đời của ông bố, lại cũng được ví như cái mầm mống đau khổ mà “gã lái xe” đã gieo vào người cô con gái: “Nó bé nhỏ nhưng lại hiện hữu rõ ràng trong tôi…Như mầm măng ngọt được tưới bằng nước mắt của cây mẹ đều đặn như sương sa mỗi lúc đêm về. Nó lớn nhanh. Đã đến ngày, ngày nó xé đất đòi chui lên”. Mầm đắng rõ ràng vừa là một thực thể gần gũi, vừa là sự ám ảnh, vừa chất chứa hi vọng, vừa là nỗi xót xa với người dân nơi đây, mà nhân vật nữ trong câu chuyện là một đại diện.

Đọc xong câu chuyện, bên cạnh giá trị nhân sinh sâu sắc mà tác giả nhắn gửi, tôi còn ấn tượng mạnh với văn phong của tác giả. Đó là cách hành văn tự nhiên, không cầu kì trau chuốt nhưng rõ ràng đã chạm được tới nơi sâu kín nhất trong trái tim mỗi con người, gieo vào đó những ám ảnh. Đó là những câu văn ngắn, có nhịp điệu (nhiều ngắt, nghỉ) thể hiện một tư duy khúc triết, rõ ràng (Có tới hơn bốn mươi câu văn dài không quá 5 từ, trong đó nhiều câu chỉ có 2, 3 từ). Đó còn là những cách hình dung, so sánh thông qua những liên tưởng hình ảnh rất mộc mạc, dung dị như chính thiên nhiên con người ở vùng cao Tây Bắc.

Là cây bút tuổi đời còn khá trẻ, chúng ta có cơ sở để hi vọng rằng Tống Ngọc Hân, cùng với niềm yêu thích văn chương, cùng với vốn sống và sự gắn bó máu thịt với vùng núi Tây Bắc, sẽ khai thác có hiệu quả, đầy sáng tạo mảnh đất và con người nơi đây qua những trang văn của mình. Âu đó cũng là sự bổ khuyết cần thiết cho mảng sáng tác về đề tài dân tộc và miền núi của nền văn học nước nhà./.

 

Bùi Hải Yến

 
Đôi ba “chuyện đằng sau” cuộc Cách mạng Tháng tám 1945

Hồi Tổng thống Mỹ Babrak Obama thăm nước ta cuối tháng 5/2016, nhiều người tấm tắc chuyện ông ăn bún chả, uống bia tu từ chai; dừng xe dọc đường để tạt vào hỏi han người bán hàng ở vỉa hè; kết thúc 30 phút nói chuyện với sinh viên tại Trung tâm Hội nghị quốc gia ngày 24/5/2016 bằng câu Kiều: “Rằng: Trăm năm cũng từ đây/ Của tin gọi một  chút này làm ghi”. Phải công nhận Obama “diễn” giỏi nhưng do toàn những “tiết mục sống động” nên điều khá quan trọng ông nói với sinh viên về mối quan hệ Việt - Mỹ trong quá khứ lại ít người lưu tâm, đó là năm 1944 máy bay Mỹ bị rơi, phi công nhảy dù xuống Cao Bằng đã được Việt Nam cứu và năm 1945 một nhóm quân nhân Mỹ đã giúp chúng ta giành chính quyền từ tay Nhật.

Nhìn chung sách báo, phim ảnh về Cách mạng tháng Tám năm 1945 chỉ cho biết các sự kiện chủ yếu, những “chuyện đằng sau” ít được đề cập đến nên điều Obama nhắc tới đúng là không nhiều người biết. Vấn đề còn bởi thời điểm và mức độ công bố. Những năm kháng chiến chống Mỹ là không thể. 20 năm tiếp theo do Mỹ thi hành chính sách cấm vận với nước ta, sự việc cũng chỉ nhắc đến thoáng qua một số lần trên vài tờ báo, với ý lấy làm tiếc khi hai bên từng khởi đầu tốt đẹp nhưng cơ hội đã bị bỏ lỡ. Chỉ từ năm 1995 khi Mỹ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, chuyện mới dần được đề cập rộng rãi. Cuốn Sổ tay tra cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh của 10 nhà sử học do GS.TS Phan Ngọc Liên chủ biên xuất bản lần đầu năm 1998 không rõ đã viết về chuyện “đằng sau” ấy chưa, chỉ biết năm 2004 sách được sửa chữa và bổ sung lần thứ ba cho NXB Hải Phòng thì sự kiện đã được nhắc đến. Năm 2010 Đặng Vương Hưng viết thử nghiệm, sau đó chỉnh sửa và in cuốn Phi công Mỹ ở Việt Nam (NXB Công an nhân dân, 2013) nhân 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (1995-2015) và 70 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước (1945-2015), trong đó có nhắc đến hai sự kiện trên. Gần nhất, nhân chuyến thăm của Obama, Nguyệt san Quân đội Nhân dân ngày 15/6/2016 đã viết khá chi tiết về “chuyện đằng sau” ấy.

Đại thể: Tháng 10/1944 một máy bay Mỹ bị quân Nhật bắn rơi (Sổ tay tra cứu… nói do hỏng máy), phi công William Shaw nhảy dù xuống vùng Hòa An, Cao Bằng đã được người địa phương cứu. Shaw đói đến mức xôi và con gà luộc người dân đem đến, anh ta ngấu nghiến một loáng đã hết! Biết quân Nhật truy lùng Shaw ráo riết, người dân đã liên hệ với du kích đưa anh ta tới Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng, tại đây Shaw nhận được bức thư bằng tiếng Anh nói sẽ có người đưa đến nơi an toàn. Người đó là Bằng Giang. Trải ba tuần băng rừng, Shaw được đưa tới Pác Bó và được lãnh tụ Hồ Chí Minh tiếp. Shaw hết sức ngạc nhiên, cảm phục và lấy làm thú vị khi “ông già không khác gì nông dân” lại nói được tiếng Anh và cho biết đã từng đến Mỹ tháng 12/1912.

Shaw trở thành cơ hội để chúng ta liên hệ với Đồng Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trực tiếp đi Côn Minh, Trung Quốc, nơi Đồng Minh đặt trụ sở. Một chuyến đi dài ngày hết sức vất vả. Đội bảo vệ do Phùng Thế Tài chỉ huy. Cuốn Lịch sử Việt Nam, tập II (NXB Khoa học xã hội, 1985) không nhắc tới sự kiện này và nói chung cho tới nay vẫn rất ít sách báo nói đến “chuyện đằng sau” ấy. Sổ tay tra cứu… là một trong số ít cuốn sách đề cập tới: “Vào đầu tháng 3/1945, Hồ Chí Minh tiếp xúc với quân Đồng Minh (các lực lượng Mỹ tại Trung Quốc) ở Côn Minh bàn việc hợp tác đánh Nhật. Người đã gặp một số sĩ quan Mỹ, như trung úy Sáclơ Phen (Charles Fenn), tướng Sênôn (Chennault)… Tướng Sênôn cảm ơn Việt Minh đã cứu thoát phi công Mỹ - trung úy Sao (Shaw) và tặng Hồ Chí Minh tấm hình của mình với dòng chữ “Bạn chân thành của ông, C.L.Chennault”. Người cảm ơn và nói: Bổn phận của những người chống phát xít là làm tất cả những gì có thể được để giúp Đồng Minh” (tr. 55). Dễ thấy là cuốn này xoáy vào chuyện ta cứu phi công Mỹ, trong khi mục đích chính chuyến đi của Bác thì lướt qua, đó là tranh thủ sự ủng hộ của Đồng Minh mà vai trò chính là Mỹ để chống Nhật, giành chính quyền và mục đích đã đạt được: Claire Chennault, Tư lệnh Không đoàn 14 Mỹ, biệt danh Hổ Bay (Flying Tiger) hứa giúp Việt Nam vũ khí và huấn luyện. Vì thiếu tư liệu nên Sổ tay tra cứu… nói cuộc tiếp xúc của Bác diễn ra “vào đầu tháng 3/1945”. Phỏng đoán này thiếu tính khoa học do không căn cứ vào tình hình thời sự lúc đó. Chúng ta đều biết, đêm 9/3/1945 Nhật đảo chính lật đổ Pháp trên toàn Đông Dương; ngày 12/3/1945 Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta và nêu khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”, từ đó mới có sự kiện Hồ Chí Minh đi Côn Minh để bàn với Đồng Minh việc đánh Nhật. Gần đây một tư liệu cho biết cuộc gặp ấy là cuối tháng 3, cụ thể là ngày 29/3.

Tại Côn Minh, lãnh tụ Hồ Chí Minh còn tiếp xúc với một số nhân vật trong chính quyền Tưởng Giới Thạch và người Pháp. Bác nói tiếng Anh với người Mỹ, tiếng Trung Quốc với người Trung Quốc và tiếng Pháp với người Pháp.

Báo Việt Nam độc lập ngày đó có in 8 tranh liên hoàn minh hoạ và hướng dẫn cách cứu phi công cùng câu thơ: “Quân đội Mỹ là bạn ta/ Cứu phi công Mỹ mới là Việt Nam”, có lẽ cả thơ và tranh đều của Bác. Không rõ số báo này ra trước hay sau chuyến Bác đi Côn Minh.

Lúc Nhật đảo chính Pháp, Bảo Đại đang ở Đà Lạt, ngày 10/3 ông vào rừng đi săn thì Nhật giữ lại để ký vào bản Tuyên cáo “Việt Nam độc lập”; hôm sau Nhật tuyên bố công nhận “độc lập” cho Việt Nam và Bảo Đại ra đạo dụ ca tụng “lòng chân thành” của Nhật (!) Trần Trọng Kim đang ở Tân Gia Ba (Singapore) được gọi về làm Thủ tướng. Tên nước được đặt là Đế quốc Việt Nam, quốc kỳ nền vàng với vạnh “quẻ ly” ở giữa. Trong Kinh Dịch, quẻ ly có nhiều nghĩa, ở đây chủ yếu với nghĩa phương Nam (khác với cờ “ba vạch” tựa như “quẻ càn”). Ngày 7/4 Bảo Đại chuẩn y nội các Trần Trọng Kim. Đây là chính phủ bù nhìn 100% dưới quyền “cố vấn” của Công sứ Nhật Yokoyama, không chỉ vậy, còn không có Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và quân đội. Cũng như các chính phủ Nhật lập ra ở Mãn Châu Quốc, Hàn Quốc, Phi Luật Tân (Philippines), Miến Điện (Myanmar), chính phủ Trần Trọng Kim không được Đồng Minh công nhận.

Khi này nạn đói đang hoành hành khắp miền Bắc (cao điểm từ tháng 10/1944 đến 5/1945). Đó là bởi suốt mấy năm liền cả Pháp lẫn Nhật đều ra sức tích trữ thóc gạo nhằm mưu đồ riêng. Nhật còn bắt dân ta nhổ lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh - sách báo nói chung chung vậy, bởi đây là “chuyện đằng sau” của Nhật nên không thể biết, có lẽ một trong những lý do là Nhật vơ vét thóc gạo đem về nước nên cần nhiều đay để làm bao đựng! Đường sắt, đường bộ Bắc - Nam không giao thông được vì bị quân Đồng Minh ném bom và Nhật ngăn cản, tàu thủy cũng không vào được cảng Hải Phòng vì thủy lôi phong tỏa từ đó dẫn tới nghịch lý: Miền Nam không có than từ Bắc vào nên Pháp đã đốt thóc thay than cho nhà máy điện; miền Bắc không có gạo vì thóc gạo phải vận chuyển từ Nam ra bằng xe bò và thuyền nhỏ, tốn công sức, mất nhiều ngày và không được bao nhiêu. Có nguyên nhân nữa là do mất mùa, mặc dù thế, các kho ở miền Bắc vẫn chất đầy thóc gạo nhưng Nhật cấm mở kho để cứu đói, chính phủ Trần Trọng Kim thì chịu thân phận bù nhìn tới mức không dám cầu xin đến một hạt. Kết quả hai triệu người miền Bắc chết đói (riêng Thái Bình chết 1/4 dân số). Nói cho đầy đủ và công bằng thì chính phủ Đế quốc Việt Nam cũng thực hiện được hai việc: Dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ hành chính thay cho tiếng Pháp, phá đổ các tượng của Pháp và đổi tên đường phố từ tên Pháp sang tên Việt. Trước tình hình nguy cấp của nạn đói, ngày 12/3/1945 Đảng và Mặt trận Việt Minh đã nêu khẩu hiệu “giữ lấy thóc mà ăn”, “không nộp một hạt thóc, đồng xu cho Nhật”, “phá kho thóc, giải quyết nạn đói”. Nhiều nơi theo lời kêu gọi đã làm được việc mà Chính phủ Trần Trọng Kim không làm được, đó là cứu đói.

Ngày 21/5/1945 lãnh tụ Hồ Chí Minh rời Pác Bó đi Tân Trào, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Tân Trào trở thành thủ đô của cách mạng (Xã Tân Trào thành lập năm 1945 trên cơ sở hợp nhất hai thôn Tân Lập - tên cũ: Kim Luông, còn gọi Kim Lung, Kim Long và  Hồng Thái - tên cũ: Kim Châu).

Thực ra Mỹ muốn có mặt ở Việt Nam từ lâu nhưng điều kiện chưa đảm bảo. Cơ quan Tình báo chiến lược OSS (Office of Strategic Services - tiền thân của CIA) của Mỹ đã đặt trụ sở ở Côn Minh, năm 1943 OSS đã gặp gỡ ba người Mỹ, muốn họ nhận một nhiệm vụ tình nguyện ở Đông Dương nhưng cả ba đều từ chối khi biết cơ hội sống chỉ 50%! Mặc dù vậy Mỹ vẫn huấn luyện được một số quân nhân cách giết mổ và ăn thịt dê, mò bắt ốc hến và kỹ năng sống khi lạc rừng; họ được học một ít tiếng Việt và kiến thức về địa lý, lịch sử, văn  hóa, tình hình chính trị ở Việt Nam để sẵn sàng làm nhiệm vụ khi có cơ hội. Việc giải cứu Shaw không chỉ tạo cơ hội cho ta mà còn là cơ hội của Mỹ nên ngay sau cuộc gặp Hồ Chí Minh ở Côn Minh, Mỹ đã lập tức cho hai quân nhân tới Tân Trào làm nhiệm vụ giải cứu phi công và công tác tình báo; tháng 5/1945 OSS lại giao Archimedes Patti đặc trách về Đông Dương, đồng thời thành lập đội đặc nhiệm Con Nai (Deer Team) gồm các quân nhân đã được huấn luyện do thiếu tá Allison Thomas làm đội trưởng để thực thi nhiệm vụ ở Việt Nam. Sổ tay tra cứu… viết: “Đội Con Nai: Mật danh của một nhóm quân nhân Đồng Minh được phái đến Việt Nam, theo thỏa thuận với Hồ Chí Minh huấn luyện du kích, cung cấp phương tiện chiến đấu. Vào chiều 17/7/1945 nhóm Con Nai gồm 5 người, do thiếu tá tình báo E. Tômát phụ trách, nhảy dù xuống Tân Trào (Tuyên Quang). Khoảng 20 giờ ngày hôm ấy, Hồ Chí Minh có thảo luận với Tômát, Người khẳng định Mặt trận Việt Minh là tổ chức tập hợp các tổ chức đảng phái chính trị để giành độc lập tự do. Ngày 19/7 Người lại cùng Tômát bàn về khu vực hoạt động của đội Con Nai. Theo Người, Con Nai nên tập trung hoạt động trên tuyến đường Thái Nguyên - Bắc Cạn - Cao Bằng (đường thuộc địa số 3), sau đó có thể mở rộng diện hoạt động trên đường Lạng Sơn - Hà Nội. Người cũng khẳng định tiếp nhận đội Con Nai khác. Từ ngày mồng 1 đến 6/8, Hồ Chí Minh tuyển lựa 200 du kích để đội Con Nai huấn luyện vũ khí” (tr. 81). Sự việc được tạp chí Xưa Nay và Hồn Việt viết tỉ mỉ hơn: Một khoảng rừng đã được chúng ta phát quang nhanh đến mức kỷ lục để đón Đội Nai và khẩu hiệu bằng tiếng Anh: “Chào mừng các bạn Mỹ của chúng tôi” (do hai quân nhân Mỹ tiền trạm thực hiện) khiến họ bất ngờ và cảm động. Ra đón là Võ Nguyên Giáp. Thả dù cùng Đội Nai là vũ khí đủ trang bị cho 80 người. Ngay tối hôm đó, vào hồi 20 giờ lãnh tụ Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đã làm việc với Thomas, thấy trong đội có một người Pháp và một người Việt, ta dứt khoát yêu cầu trở lại Côn Minh, đề nghị đổi người khác. Việc Pháp quay trở lại sau chiến tranh là điều rất có thể nên cảnh giác trước là hơn, đó là “chuyện đằng sau” của việc đề nghị đổi người. Mỹ đang cần có mặt ở Việt Nam nên buộc phải chấp nhận và một tuần sau đã thả dù bốn người thay thế. Tới lúc này Đội Nai có tất cả bảy người, ngoài chuyên gia vũ khí và bác sĩ còn có nhân viên điện đài, người phiên dịch, người chụp ảnh. Mỹ khá chu đáo, nhờ trung sĩ kiêm nhiếp ảnh Aron Sqquires, chúng ta mới có những bức ảnh Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp với Đội Nai. Cuối tháng 7 Bác bị ốm sốt rét rất nặng tưởng không qua khỏi, cuốn Sổ tay tra cứu… nói Bác khỏi nhờ thuốc của ông lang người Tày song theo bác sĩ quân y Paul Hoaglund trong Đội Nai thì chính ông ta đã “cứu ông Hồ”.

Lúc này nhiều nơi lập căn cứ và tổ chức lực lượng vũ trang kháng Nhật:

- Cứu quốc quân: Tên gọi chung 3 trung đội du kích ở Bắc Sơn (Lạng Sơn, thành lập 14/2/1941), Vũ Nhai (Thái Nguyên, thành lập 15/9/1941), Sơn Dương (Tuyên Quang, thành lập 25/2/1944). Mỗi nơi khoảng 30 - 40 chiến sĩ.

- Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân: Gồm 34 chiến sĩ (29 là người dân tộc thiểu số) thành lập theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh ngày 22/12/1944 tại khu rừng Sam Cao giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám thuộc châu Nguyên Bình, Cao Bằng. Chỉ thị được giấu trong bao thuốc lá. Đây là đội quân chủ lực do Võ Nguyên Giáp chỉ huy, Hoàng Sâm đội trưởng, Xích Thắng(1) chính trị viên, Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến. Trang bị gồm 2 súng thập (súng ngắn ổ đạn 10 viên), 17 súng trường, súng kíp, 14 mã tấu. Sở dĩ Bác chọn Võ Nguyên Giáp bởi nhận thấy nhà giáo dạy sử ở trường Thăng Long, Hà Nội này am hiểu sâu sắc lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới và trân trọng nghệ thuật quân sự của cha ông.

- 7 nơi khác trên toàn quốc lập chiến khu, trong đó Chiến khu Trần Hưng Đạo (còn gọi Chiến khu Đông Triều, Đệ tứ chiến khu) do Nguyễn Bình chỉ huy thu hút khá nhiều thanh niên Hải Phòng. Nhiều nơi cũng thành lập các căn cứ và các đội du kích kháng Nhật.

Ngày 15/5/1945 tại vùng Chợ Chu (Thái Nguyên), Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân tổ chức lễ hợp nhất thành Giải phóng quân Việt Nam. 100 chiến sĩ (Sổ tay tra cứu… nói 200) được tuyển lựa để Đội Nai huấn luyện. Henri Prunier, sĩ quan của Đội Nai kể trong hồi ký: Trước đó trang bị của Giải phóng quân rất thô sơ, chỉ vài khẩu hỏa mai nòng ngắn (musketoon) còn lại là súng kíp, mã tấu, giáo mác, gậy gộc, kỹ năng chiến đấu gần như không và chẳng một ai biết cách ném lựu đạn, mister Van (Võ Nguyên Giáp) thì “liều” đến mức có lần còn ghé tận mắt nhìn vào nòng súng khiến Prunier hoảng hồn!

Năm 1995 Henri Prunier thăm lại Việt Nam, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp. Trong bữa ăn Prunier đang nghĩ chắc ông Giáp không nhớ mình thì bất ngờ Đại tướng đứng dậy cầm một quả cam giả làm động, tác ném lựu đạn khiến Prunier rất xúc động, bởi đó chính là “bài giảng” 50 năm trước ông từng giúp huấn luyện  quân đội Việt Nam.

Về sự kiện Nhật đầu hàng Đồng Minh, cuốn Lịch sử Việt Nam (NXB Khoa học xã hội, 1985) viết: “Mùa Thu năm 1945, sau khi Liên Xô thực hiện cam kết ở Hội nghị Yanta, tuyên chiến với Nhật và đánh tan đạo quân Quan Đông tinh nhuệ của chúng, phát xít Nhật đầu hàng không điều kiện các nước Đồng Minh ngày 14/8/1945. Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc” (tr. 338). Cuốn sử này không nhắc đến sự kiện Mỹ ném bom nguyên tử xuống đất Nhật. Nhìn chung một dạo sách báo chỉ kể từ 9/8 đến 17/8/1945 Liên Xô đánh tan đội quân Quan Đông 750 nghìn người của Nhật đóng ở Mãn Châu, Trung Quốc, coi như yếu tố quyết định phát xít Nhật đầu hàng; có nói đến Mỹ ném bom nguyên tử xuống đất Nhật (ngày 6/8 và  9/8/1945) cũng chỉ xem như tội ác. Thiết nghĩ, “Phát xít Đức đã tắt thở”, đất nước lại bị bom nguyên tử nên quân Nhật không thể không mất tinh thần, do vậy nhanh chóng thua trận và trên thực tế 12 giờ trưa 13/8, Nhật đã chấp nhận hạ vũ khí đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện.

Theo dõi sát tình hình nên ngày 13/8 Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào đã đề ra các chủ trương để Mặt trận Việt Minh chủ trì Quốc dân Đại hội; mới họp được nửa ngày thì được tin Nhật đầu hàng Đồng Minh. ủy ban khởi nghĩa được thành lập (gồm Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị, Chu Văn Tấn do Tổng Bí thư Trường Chinh phụ trách).

Có tài liệu nói ngay sau khi nghe tin Nhật đầu hàng Đồng Minh, Giải phóng quân đã lên đường. Nhưng cũng có tài liệu nói là ngày 16/8 dưới gốc đa Tân Trào, trước sự chứng kiến của nhân dân trong vùng và các đại biểu dự Quốc dân Đại hội, Giải phóng quân Việt Nam đã làm lễ xuất quân, sau khi Võ Nguyên Giáp đọc Quân lệnh số 1. Sách báo ngày trước cũng chỉ kể đến Giải phóng quân Việt Nam, gần đây mới được biết một “chuyện đằng sau”, đó là sự có mặt của Đội Nai. Quân Giải phóng chia làm hai toán, toán do Võ Nguyên Giáp và Thomas chỉ huy, toán do Đàm Quang Trung và Dèfourneaux chỉ huy. Thế nên người Mỹ gọi đó là “Bộ đội Việt - Mỹ”. Lúc này mưa lớn đã nhiều ngày, sông suối tràn nước, đường lở, cây đổ khiến việc hành quân hết sức vất vả nên sau 4 ngày mới tới Thái Nguyên. Lực lượng Nhật ở đây khá mạnh, dù Thomas đưa vào đồn giấy tờ chứng minh là sĩ quan Mỹ thừa lệnh Đồng Minh, yêu cầu Nhật đầu hàng nhưng chúng không chịu hạ vũ khí nên buộc phải nổ súng.

Ngày 16/8 cũng là ngày khai mạc Quốc dân Đại hội. Hơn 60 đại biểu các đảng phái, đoàn thể, tôn giáo, các dân tộc và kiều bào ở nước ngoài đã tham dự Đại hội. Nhiều tài liệu nói chung chung như vậy. Cụ thể, đại biểu kiều bào chỉ từ Thái Lan và Lào. Các đảng phái chỉ Đảng Cộng sản Đông Dương và Đảng Dân chủ Việt Nam tham gia (Đảng Dân chủ thành lập ngày 30/6/1944 do Dương Đức Hiền sáng lập và làm Tổng bí thư). Đảng phái vắng mặt có thể đoán được, trong đó có hai đảng lưu vong ở Trung Quốc là Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội (Việt Cách), Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc).

Quốc dân Đại hội thông qua 10 chính sách của Việt Minh, định ra quốc kỳ, quốc ca và bầu ủy ban Dân tộc giải phóng (Hồ Chí Minh - Chủ tịch, Trần Huy Liệu - Phó chủ tịch, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền -ủy viên thường trực; Trường Chinh, Cù Huy Cận, Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Hữu Đang, Lê Văn Hiến, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Xuân(2) - ủy viên). Qua Charles John trong Đội Nai, một bức thư được chuyển tới OSS để gửi Chính phủ Mỹ, đề nghị thông báo với Liên Hợp Quốc việc Việt Nam đứng về phía Đồng Minh, yêu cầu tổ chức này thể hiện lời hứa long trọng là tất cả các dân tộc trên thế giới đều được hưởng quyền tự do và độc lập. Đại hội kết thúc ngay hôm sau, dân trong vùng đem gạo và một con bò đến mừng đại hội. Các đại biểu hết sức thấm thía khi Hồ Chủ tịch chỉ vào em bé đang ở trần nói: “Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao cho trẻ em có cơm ăn, áo mặc, khỏe mạnh và được học hành”. Sau đó tất cả nhanh chóng lên đường về địa phương mình để phát động và lãnh đạo khởi nghĩa. Trong hồi ký, Trung tướng Trần Quý Hai kể ông đi xe đạp từ Tân Trào về Quảng Ngãi phải thay tới mấy bộ má phanh!

Đồng bằng Bắc bộ ngập trong lũ lụt nên Giải phóng quân nhiều lúc phải đi thuyền từ Thái Nguyên về Hà Nội. Ngày 17/8 cờ quẻ ly ở dinh Khâm sai Bắc Bộ (Bắc Bộ phủ) bị hạ xuống thay bằng cờ đỏ sao vàng. Ngày 19/8/1945 Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Nhạc sĩ Xuân Oanh kể, ông hòa vào đoàn người tiến về Nhà hát Lớn. Cảm xúc trước khí thế cách mạng ông bật ra câu hát: “Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày…”, không có giấy, ông ghi vào vỏ bao thuốc lá, cứ thế cả lời và nhạc ào đến một cách tự nhiên và kỳ lạ, tới Nhà hát Lớn cũng là lúc hoàn thành, ông phổ biến luôn cho quần chúng, sau đó in, đài phát thanh thu âm và phát lên sóng suốt cả tuần cho đến ngày 2/9. Đó là ca khúc 19 tháng 8.

Lúc này nhiều vùng nông thôn Kiến An sôi nổi đứng lên giành chính quyền hoặc buộc chính quyền địa phương phải phục tùng cách mạng, điển hình là Kim Sơn, Kiến Thuỵ. Chiều 22/8 ủy ban khởi nghĩa gặp luật sư Vũ Trọng Khánh, Thị trưởng Hải Phòng; ông Vũ Trọng Khánh tuyên bố ủng hộ cách mạng. Sáng 23/8 nghĩa quân Chiến khu Đông Triều theo hai ngả tiến vào thành phố, cùng lúc trung đội tự vệ Kiến An tập trung ở Niệm Nghĩa, tất cả tiến về Nhà hát Lớn ra mắt quốc dân đồng bào, khởi nghĩa chính thức thắng lợi ở Hải Phòng. Vũ Trọng Khánh trở thành ủy viên hành chính ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Hải Phòng; sau là Bộ trưởng Tư pháp Chính phủ lâm thời (27/8/1945 - 6/1/1946), tham gia phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau (tháng 6-9/1946). Khởi nghĩa cũng lần lượt thắng lợi ở Huế 23/8, Sài Gòn 25/8...

Ngày 22/8 Hồ Chủ tịch rời Tân Trào để về Hà Nội, xế chiều 25/8 Người đến nhà số 48 Hàng Ngang. Trước đó Nguyễn Lương Bằng đã gặp ông bà Trịnh Văn Bô chủ nhà đề nghị sắp xếp cho một người đến ăn ở và làm việc ít ngày, nếu ai hỏi thì bảo là “người nhà ở quê” ra! “Người ấy” đến, cao gầy, áo nâu, quần sooc, đi dép cao su trắng nhãn hiệu Con Hổ, loại dép thông dụng lúc bấy giờ. Vì bí mật nên đến tận Lễ Độc lập 2/9, ông bà Trịnh Văn Bô mới biết “người ấy” là Hồ Chủ tịch và những người đến gặp Bác là ai, còn trước đó chỉ đoán “khách” hẳn là người quan trọng vì thấy ai tới gặp đều tỏ rõ sự kính trọng, có hôm tới 15 người đến họp (Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Bùi Công Trừng, Trần Đăng Ninh...). Có một “chuyện đằng sau” ít được nói tới, đấy là ngày 29/8 Archimedes Patti và Allison Thomas đến gặp Hồ Chủ tịch và được Người cho xem bản đánh máy Tuyên ngôn độc lập “với nhiều chữ bị gạch bỏ và được viết đè lên bằng mực cùng với nhiều ghi chú bên lề” - Patti viết trong hồi ký Why Vietnam? (Vì sao, Việt Nam? xuất bản 1985), được nghe dịch ra tiếng Anh những câu đầu, ông “nổi gai” khi nghe chính lời bản Tuyên ngôn năm 1776 của đất nước mình. Từ 28/8 Bác đến làm việc tại trụ sở Chính phủ lâm thời (Bắc Bộ phủ cũ) song vẫn về ăn ở tại 48 Hàng Ngang cho đến 27/9.

Trịnh Văn Bô thuộc dòng dõi Trịnh Kiều (con thứ tư An Đô vương Trịnh Cương), có hiệu vải Phúc Lợi ở 48 Hàng Ngang, xưởng dệt và một số nhà ở Hà Nội. Triết lý kinh doanh của ông bà là: “Buôn bán được 10 chỉ giữ 7, còn thì giúp người nghèo và làm phúc. Khi cần nuôi nền độc lập thì cống hiến tất cả”. Trước Tổng khởi nghĩa ông bà đã hiến tiền và vàng cho cách mạng, trong Tuần lễ vàng (17/9 - 24/9/1945) lại hiến tiếp và đưa cho họ mạc hàng trăm lượng để hiến Nhà nước. Sau này khi quân đội Tưởng Giới Thạch vào tước khí giới quân Nhật, tuy thỏa thuận và nhường chỗ cho Pháp, chấp nhận rút về nước song chúng không phải đã dễ dàng cuốn gói, có tài liệu nói “đằng sau” sự việc là chuyện ta phải lót tay cho Tiêu Văn, Lư Hán và Tổng trưởng Quốc phòng Hà ứng Khâm! Tất cả đều do Trịnh Văn Bô ủng hộ, vì không có sẵn tiền mặt, gia đình đã phải bán phá giá vải vóc. Tính ra, trước sau Trịnh Văn Bô ủng hộ Nhà nước, quy ra vàng là 5147 lượng, tương đương 2.000.000đ Đông Dương, gần gấp đôi ngân khố quốc gia chính quyền cũ để lại (1.200.000đ, phần lớn là tiền rách không lưu thông được). Con số 5147 lượng vàng được viết ở góc bức ảnh bà Hoàng Thị Minh Hồ, vợ Trịnh Văn Bô hiện vẫn treo trên tường biệt thự 34 Hoàng Diệu nơi ở của một trong các con của ông bà (cạnh nhà gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp). Gia đình Trịnh Văn Bô theo kháng chiến, hòa bình lập lại ông làm Phó chủ tịch ủy ban hành chính Hà Nội cho đến khi nghỉ hưu.

Sổ tay tra cứu… viết: “ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời…” (tr. 229) là chưa được cụ thể vì sau đó 10 ngày, đến 27/8 Hồ Chủ tịch mới đề nghị ủy ban Dân tộc giải phóng cải tổ thành Chính phủ lâm thời. Để tránh bất lợi về chính trị và tạo điều kiện cho phong trào Việt Minh, 5/15 thành viên ủy ban không tham gia Chính phủ, gồm Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Đình Thi, Chu Văn Tấn, Nguyễn Chí Thanh, nhường chỗ cho các nhân sĩ Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Trọng Khánh, Hoàng Minh Giám.

Ngày 23/8/1945 Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận đại diện  Chình phủ lâm thời vào đến Huế; nội các Trần Trọng Kim chính thức bị xoá sổ, tính ra tồn tại được hơn 4 tháng. Trong hồi ký Từ Triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc Phạm Khắc Hoè, nguyên Ngự tiền văn phòng của Bảo Đại kể: Đêm 23/8/1945 ủy ban Nhân dân Cách mạng Bắc Bộ gửi cho Bảo Đại bức điện: “Chính phủ Nhân dân cách mạng đã thành lập, Chủ tịch là cụ Hồ Chí Minh. Yêu cầu đức vua thoái vị ngay để củng cố và thống nhất nền độc lập nước nhà”. Dưới bức điện là tên những người gửi: Nguyễn Xiển, Nguyễn Văn Huyên, Nguỵ Như Kon Tum, Hồ Hữu Tường. Sáng 24 Phạm Khắc Hòe vào gặp Bảo Đại và đưa xem bức điện. Bảo Đại tỏ ra rất buồn vì hóa ra câu sấm “…Vạn đại dung thân”(3) là sai, rồi ông nói: “Nếu quả là người cầm đầu Việt Minh là “Thánh Nguyễn ái Quốc” thì tôi sẵn sàng thoái vị ngay”. Bởi khi này Hồ Chí Minh là ai, ở Huế chưa hề nghe tiếng, chỉ biết đến Nguyễn ái Quốc và câu sấm “Nam Đàn sinh thánh”. Phạm Khắc Hòe vội tới các nhà để hỏi thì Tôn Quang Phiệt đi vắng, Đào Duy Anh lục sách vở chỉ thấy Nguyễn ái Quốc có rất nhiều tên gọi nhưng không thấy tên nào là Hồ Chí Minh cả. Sực nhớ đến Vũ Văn Hiền vừa ở Hà Nội về, Phạm Khắc Hoè liền tới mới biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn ái Quốc. Ông về ngay báo cho Bảo Đại. Những khi bộc phát, câu nói cất lên từ đáy lòng thường Bảo Đại nói bằng tiếng Pháp và lần này cũng vậy: “Ca vaut bien le coup alors” (Như vậy thì thật đáng thoái vị).

Ngày 25/8 (có tài liệu nói chiều 30/8), trước hàng ngàn người ở Ngọ Môn, Bảo Đại tuyên ngôn thoái vị. Trần Huy Liệu là người đầu tiên tiếp nhận ấn, kiếm. Lời Bảo Đại tại lễ thoái vị: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ” sau này được cựu Hoàng hậu Nam Phương nhắc lại trong một thông điệp; tuy nhiên một người chứng kiến lễ thoái vị cho biết Bảo Đại không nói câu trên mà đọc câu trong Chiếu thoái vị là: “Từ nay trẫm lấy làm vui mừng được làm dân tự do của một nước độc lập”. Tiếp đó Bảo Đại trao ấn, kiếm cho đại diện Chính phủ lâm thời, kể từ đây ông là công dân Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. ấn và kiếm đều bằng vàng, Cù Huy Cận bưng ấn mà muốn xiêu cả người vì thấy nhỏ tưởng nhẹ nên không chuẩn bị tư thế.

Các triều đại đều có nhiều ấn, một tài liệu nói triều Nguyễn có 26 ấn, chỉ ấn triện (thuộc “đồ thư văn bảo”: bản đồ, sách, văn bản, triện bảo) là dùng thường xuyên, các ấn khác đều cất giữ (gọi là “tôn tàng bảo tỉ”). Tên ấn căn cứ vào chữ ở ấn. ấn quan trọng nhất, tượng trưng cho quyền lực triều đại chỉ dùng trong ngoại giao, truyền ngôi hoặc trường hợp đặc biệt nên Bảo Đại đã trao chiếc ấn này khi thoái vị. Có tài liệu nói đó là ấn “Sắc cáo chi bảo” (đúc năm Gia Long thứ nhất,1802). Có tài liệu lại nói là “Hoàng đế chi bảo” (hoặc “Nguyễn triều chi bảo”, đúc năm Minh Mạng thứ tư, 1823). Chỉ biết ấn nặng 280 lạng 9 chỉ 2 phân (27 lạng = 1kg nên ấn nặng 10,7 kg), bà Mộng Điệp “thứ phi” của Bảo Đại đã tự tay đem cân và nói nặng 12,9 kg; Trần Huy Liệu lại viết trong hồi ký ấn nặng 7 kg. Có lẽ bà Mộng Điệp nói đúng.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến, người Pháp vô tình tìm thấy cặp ấn kiếm trong một thùng dầu hỏa, kiếm bị bẻ làm đôi cho gọn! Ai giấu, sao không mang vào vùng kháng chiến? Đó là “chuyện đằng sau” không bao giờ có câu trả lời. Pháp đưa cho bà Mộng Điệp, bà hàn nối lại kiếm. Năm 1953 Mộng Điệp sang Pháp giao lại cho Nam Phương. Sau này Bảo Long bán đấu giá 306 kỷ vật triều Nguyễn trong đó có chiếc kiếm. Bán rẻ nhất là ảnh Nam Phương chụp với Bảo Long hồi nhỏ, 600 fr; trung bình là bức tranh Phụ nữ ngồi của hoạ sĩ Mai Trung Thứ (quê Do Nha, An Dương, Hải Phòng), 25.000 fr; đắt nhất là tượng Chàm thế kỷ XII, 150.000 fr. Bảo Long dự định sẽ bán chiếc ấn. Mộng Điệp phản đối chuyện ấy vì cho rằng cặp ấn kiếm là tài sản của quốc gia Việt Nam chứ không phải của bất cứ cá nhân nào. Chính nhận thức như vậy nên trước đây người Pháp tìm thấy chúng đã trả lại cho phía Việt Nam.

Cũng cần biết thêm: Cuốn Bí sử triều Nguyễn (NXB Thanh Hóa, 2014) viết: “Triều đình Thành Thái khác các triều trước ở chỗ lễ đăng quang không có Truyền quốc bảo tỉ ấn ngọc. Lúc trước, khi rời khỏi kinh thành Huế, vua Hàm Nghi đã mang theo ấn ngọc và đánh mất tại Quảng Bình. Lúc tại vị vua Đồng Khánh đã phải dùng một ấn ngọc khác”.

Trên đây là một số chuyện xung quanh cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 được lượm lặt từ sách báo. Chuyện có thể không hoàn toàn đúng với sự thật, bởi lịch sử bao giờ cũng tồn tại những bí ẩn và được nhìn nhận bằng cái nhìn của nhiều người, từ nhiều góc độ và tùy từng thời điểm, nhất là những gì “đằng sau” sự việc./.

Lưu Văn Khuê

 
Những vần thơ viết cho thiếu niên, nhi đồng

Nguyễn Văn Thanh

(Quảng Trị)

Thơ viết về thiếu niên, nhi đồng là một tài sản tinh thần vô giá đối với các thế hệ thiếu nhi Việt Nam. Bằng sự am hiểu, bằng niềm say mê, bằng tấm lòng yêu thương trẻ, các nhà thơ  đã đem đến cho các em  những bài học thiết thực để phấn đấu vươn lên thành con ngoan, trò giỏi, thành những người chủ tương lai của nước nhà.

Khi nói đến lòng yêu thương trẻ, văn thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh như dành riêng một niềm yêu thương vô hạn, niềm cảm xúc thiết tha. Cách mạng Tháng Tám mới thành công, công việc nước nhà còn bề bộn, mặt khác lại phải bắt tay ngay vào cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ, nhưng Đảng, Chính phủ và Bác Hồ vẫn quan tâm đến thiếu nhi. Tờ Thiếu sinh-tiền thân của báo Thiếu niên Tiền phong đã ra mắt từ năm 1946. Hằng năm vào dịp Tết Trung Thu, 1/6 hay những dịp biểu dương khen ngợi thiếu nhi, Bác Hồ đều có thơ chúc Tết, thư khen các cháu. Bài thơ đầu tiên Bác viết cho thiếu nhi là bài “Kêu gọi thiếu nhi” (1941), trong đó Bác khẳng định:

“Trẻ em như búp trên cành,

Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”.

Điều đặc biệt là không Trung thu nào mà Bác Hồ không có thư cho các cháu. Đó cũng là dịp Bác nhắc nhở về học tập, về “tuổi nhỏ làm việc nhỏ”-nhưng cái chính vẫn là tấm lòng yêu thương da diết: “Ai yêu các nhi đồng /Bằng Bác Hồ Chí Minh/ Tính các cháu ngoan ngoãn/ Mặt các cháu xinh xinh/ Mong các cháu cố gắng/Thi đua học và hành/ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tùy theo sức của mình/ Để tham gia kháng chiến/ Để gìn giữ hòa bình/ Các cháu hãy xứng đáng” (Trung thu năm 1952).

Trung thu năm 1954, sau khi có thư chúc Tết các em, Bác còn viết hai câu thơ như một lời dự đoán tiên tri cho những mùa trung thu sau của đất nước:

“Bao giờ Nam Bắc một nhà

Các cháu xúm xít thì ta vui lòng”

Khi nói đến trẻ thơ, văn thơ Bác như dành riêng một niềm yêu thương vô hạn, niềm cảm xúc thiết tha. Nhà thơ Tố Hữu viết: “Và các em có hiểu vì sao/ Lòng Bác mênh mông vẫn dạt dào/ Yêu nụ mầm non, yêu tuổi trẻ/ Biển thường yêu vậy sóng xôn xao” (Theo chân Bác).

Thơ thiếu nhi Việt Nam từ sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, đặc biệt từ 1986 có sự phát triển mạnh mẽ và phong phú. Công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước đã thực sự đem lại một không khí mới cho văn học nước nhà, trong đó có bộ phận văn học thiếu nhi. Sáng tác cho các em, từ những năm đầu thời kì đổi mới đến nay, đã đạt được những thành tựu đáng kể, với những tác giả quen thuộc đã dành tất cả tâm huyết cho các em như Phạm Hổ, Võ Quảng, Định Hải, Xuân Quỳnh…

Gần 50 năm cầm bút, Võ Quảng đã để lại cho văn học thiếu nhi Việt Nam một di sản đồ sộ với những tuyển tập như Nắng sớm (thơ,1965), Anh Đom đóm (thơ, 1970), Quê nội (truyện, 1973), Gà mái hoa (thơ, 1975).  Ông từng tâm sự: ‘Viết cho thiếu nhi, đó là niềm vui, là lẽ sống của tôi”. Những vần thơ của Phạm Hổ theo dấu thời gian đã in đậm vào tâm hồn thiếu nhi hàng thế hệ như: “- Cốc, cốc, cốc! /Ai gọi đó? /Tôi là Thỏ / Nếu là Thỏ / Cho xem tai...” (Mời vào); “Dưới vỏ một cành bàng / Còn một vài lá đỏ / Một mầm non nho nhỏ / Còn nằm nép lặng im” (Mầm non) hay “Ai dậy sớm/ Đi ra đồng / Cả vừng đông / Đang chờ đón” (Ai dậy sớm)... Nhà nghiên cứu Phong Lê nhận xét: “Thơ Võ Quảng ít nói điều gì cao xa, to tát, trừu tượng. Ông chỉ nói những chuyện nhỏ nhẹ, bình thường, với giọng vui hóm, ngộ nghĩnh... Nhưng mặc dù vậy, hay chính vì vậy, thơ ông lại rất giàu ý vị giáo dục”.

Nhà thơ Phạm Hổ tâm sự: “Nếu được sống thêm một lần nữa, tôi vẫn chọn nghề cũ: “Làm thơ, viết văn cho các em đọc, còn vẽ tranh cho các em xem nữa” (Nhà văn Việt Nam hiện đại, NXB Hội Nhà văn 1996). Thơ của ông luôn ngộ nghĩnh, sinh động, vui vẻ: “Mười quả trứng tròn/ Mẹ gà ấp ủ/ Mười chú gà con/ Hôm nay ra đủ/ Lòng trắng lòng đỏ/ Thành mỏ thành chân/ Cái mỏ tí hon/ Cái chân bé xíu…” (Mười quả trứng tròn). Bài “U ốm”,  Phạm Hổ cũng đã nói lên được tình cảm của người con thương mẹ sâu xa mà giản dị:  “U ốm nằm nhà/ Không ra đồng được/ U đắp kín chăn/ Mặt quay vào vách/ Em vẫn đi học/ Trường xa càng xa/ Người em ở lớp/ Lòng em ở nhà”.

Nhà thơ Định Hải, nguyên Trưởng ban Văn học thiếu nhi Hội Nhà văn Việt Nam, là một trong những nhà thơ có nhiều cống hiến cho nền văn học thiếu nhi. Đọc thơ Định Hải người đọc dễ dàng bắt gặp những câu thơ giản dị, trong sáng hồn nhiên với lối gieo vần tạo nhịp điệu kiểu như: “Nghé à, nghé ơi!/ Mùa xuân êm mát/ Cỏ xanh mượt đồi/ Đồng xanh bát ngát” (Gọi nghé). Thơ Định Hải còn cấu tứ chặt chẽ, hình tượng đẹp, lứa tuổi nào cũng yêu thích: “Chuồn chuồn kim ơi, chuồn chuồn kim/ Bà đang đi tìm, đang đi tìm / Về giúp bà, giúp bà khâu áo” (Chuồn chuồn kim) .

Nữ thi sĩ Xuân Quỳnh được nhiều thế hệ độc giả yêu mến. Xuân Quỳnh đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1 và mới đây được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Xuân Quỳnh không những viết thơ mà còn cả văn xuôi cho các em nữa. Thơ của chị được các em yêu thích bởi tính hóm hỉnh, vui tươi, nồng ấm và phù hợp với tâm lí tuổi thơ, mang lại cho các em bao điều thú vị,  đặc sắc nhất phải kể tới bài “Con yêu mẹ”: “-  Con yêu mẹ bằng ông trời/ Rộng lắm không bao giờ hết/ Thế thì làm sao con biết/ Là trời ở những đâu đâu/ Trời rất rộng, lại rất cao/ Mẹ mong, bao giờ con tới?”.

Ngoài ra, thơ ca cho thiếu nhi còn có những sáng tác của Huy Cận, Trần Đăng Khoa, Phan Thị Thanh Nhàn…. Thế giới trong thơ của các nhà thơ với  thiên nhiên gần gũi, một tiếng hót, một mùi hương, một nụ hoa, mầm non …giàu  chất thơ, giàu màu sắc, giàu nhạc điệu.

Huy Cận viết về con tôm với giọng vui tươi, dí dỏm như chính tâm hồn các em: “Bạn ơi bạn đừng/ Bạn đừng bắt chước /Con tôm nó đi/ Nó đi thụt lùi (Con tôm). Cũng có khi giọng thơ giống như tiếng cười trong trẻo của trẻ nhỏ, vừa mang giọng kể, vừa mang giọng tả hành động của con vật: Sóc ta dậy sớm /Cái đuôi quét trời/ Bốn chân nghịch ngợm / Chẳng yên đứng ngồi (Con sóc). Bài thơ “Cá” của Huy Cận nói về công việc nuôi cá của bé nhưng tác giả vừa gợi cái ý ngộ nghĩnh tuổi thơ vừa mở ra trí tưởng tượng trong cách nhìn, cách nghĩ sâu xa rất hợp lý: “Bé cũng nghĩ đi đâu/ Quên học bài mẹ mắng/ Cá bống vội trồi đầu/ Hớp một vòng ánh nắng”.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa làm thơ khi còn là một cậu thiếu nhi. Thơ của Trần đăng Khoa là sự cảm nhận thiên nhiên tinh tế. Từ cây chuối, gốc dừa, lá trầu, trái bưởi. Cho đến đàn kiến hành quân, con cua đồng, hay con chuồn chuồn, chú bướm vàng bên bờ cỏ. Hoặc là các sự vật hiện tượng như nắng, mưa, mây, gió. Tất cả đều trở thành thơ. Tất cả đều gần gũi nhưng thi vị xuất phát từ chính hơi thở của tâm hồn tác giả.  Trong bài “Một buổi sáng nhà em” với bao nhiêu nhân vật ngộ nghĩnh và sinh động, mà ta vẫn bắt gặp ở bất cứ vùng quê nào: “Cậu mèo đã dậy từ lâu/ Cái tay rửa mặt, cái đầu nghiêng nghiêng/ Mụ gà cục tác như điên/ Làm thằng gà trống huyên thuyên một hồi/ Cái na đã tỉnh giấc rồi/ Đàn chuối đứng vỗ tay cười vui sao!”.

Phan Thị Thanh Nhàn là nhà thơ xuất hiện vào thời kỳ chống Mỹ, nổi tiếng với những bài thơ cho người lớn, nhưng cũng nhiệt tình tham gia viết cho thiếu nhi. Chị còn là tác giả của nhiều cuốn sách thiếu nhi: Con muốn mặc áo đỏ đi chơi, Xóm đê ngày ấy; Tuổi trăng rằm, Bỏ trốn và gần đây là Học trò lớp chín….Nhớ nhất là bài thơ  “Làm anh”: “Làm anh khó đấy/ Phải đâu chuyện đùa/ Với em gái bé/ Phải “người lớn” cơ…Làm anh thật khó/ Nhưng mà thật vui/ Ai yêu em bé/ Thì làm được thôi”. Giọng thơ của chị thật mềm mại, ấm áp. Cách nói sao mà khéo, dỗ dành đến ngọt.

Những năm 90 đến nay, đội ngũ viết cho các em được bổ sung thêm nhiều cây bút trẻ như Trần Thiên Hương, Nguyễn Quang Thiều, Lê Cảnh Nhạc, Nguyễn Nhật ánh, Hà Lâm Kì, Quách Liêu, Phan Hồn Nhiên, Văn Công Toàn…

Thiếu nhi nước nhà đã được nhiều thế hệ các nhà văn, nhà thơ chuyên tâm, say mê với sự nghiệp văn học - giáo dục trẻ em. Viết thơ cho các em thật không dễ, nói như nhà văn Gorki trong lời khuyên các bạn trẻ viết văn, “Mỗi câu thơ, mỗi lời văn viết cho trẻ  đọc lời văn đó, câu thơ đó, phải là những ánh sáng của viên ngọc, phải là chất tư tưởng của máu thịt, chất hình tượng của sự gạn đục khơi trong”.

 

Tài liệu tham khảo:

- Bác Hồ kính yêu của em,  NXB Kim Đồng tuyển chọn và xuất bản năm 2007.

- Ai dậy sớm (Võ Quảng), NXB Kim Đồng 2016.

- Những bài thơ nho nhỏ (Phạm Hổ), NXB Kim Đồng 2016.

- Góc sân và khoảng trời (Trần Đăng Khoa), NXB Kim Đồng 2016.

- Con muốn mặc áo đỏ đi chơi (Phan Thị Thanh Nhàn), NXB Kim Đồng 2016.

 
Đổi mới tiểu thuyết Việt Nam hiện nay - Đôi điều suy nghĩ

TS. Nguyễn Thị Ninh

(Trường Đại học Hải Phòng)

Trong mấy thập niên gần đây, đã có không ít ý kiến rộ lên về sự cáo chung của tiểu thuyết hay “lễ cầu siêu cho tiểu thuyết”. Điều này khiến nhiều người quan tâm đến nền văn học nước nhà tỏ ra hoang mang. Cũng không ít ý kiến cho đó là chuyện vô căn cứ. Bằng chứng là “sản lượng” tiểu thuyết trên thế giới và Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI vẫn tăng lên không ngừng. Dù vậy, vẫn có thể hiểu “chết” theo nghĩa là sự thay thế hình thái này bằng một hình thái khác. Sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại là một sự thay đổi hình thái. Tuy nhiên, tiểu thuyết truyền thống không “chết” hoàn toàn mà vẫn tồn tại song song cùng tiểu thuyết hiện đại tạo nên bộ mặt văn học đa dạng, kích thích sự ra đời của các trào lưu văn hóa đọc sôi nổi.

Nhìn một cách tổng quát, trong số hàng trăm cuốn tiểu thuyết ra đời ở Việt Nam khoảng từ cuối thập kỷ 80 đến nay, phần nhiều vẫn được viết theo cách truyền thống. Có thể kể đến: Tường thành, Trong nước giá lạnh (Võ Thị Xuân Hà), Ngụ cư (Thùy Dương), Đèn vàng (Trần Chiến), Tẩu hỏa nhập ma (Lê Mai), Cháy đến giọt cuối cùng (Nguyễn Thị Anh Thư), Tìm trong nỗi nhớ (Lê Ngọc Mai), Ngư phủ (Hoàng Minh Tường), Đi qua bóng tối (Nguyễn Hoàng Thu), Gió tự thời khuất mặt (Lê Minh Hà), Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quang), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Cõi người (Từ Nguyên Tĩnh), Rừng thiêng nước trong (Trần Văn Tuấn), Ba người khác (Tô Hoài), Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức), Dòng sông mía (Đào Thắng), Cõi mê (Triệu Xuân)… Dù đã có những đổi mới nhất định về nội dung phản ánh và cái nhìn hiện thực, đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, nhưng các tác phẩm này vẫn tuân thủ cơ bản mô hình kết cấu thể loại truyền thống và tư tưởng nhân văn phương Đông. Sức hấp dẫn của các tác phẩm này chủ yếu vẫn ở nội dung truyện kể, ở cốt truyện xoay quanh những thăng trầm trong số phận của một cuộc đời, của nhân vật. “Tính thẩm mĩ của tiểu thuyết bộc lộ ở sự hài hòa, nhất quán của tổng thể và các phân đoạn khiến câu chuyện mạch lạc, lôi cuốn”, “trả độc giả về với trật tự quen thuộc của đời sống”[7].

Theo quan niệm truyền thống thì “Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại. Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”[6; 225]. Khi nói đến tiểu thuyết, người ta thường hình dung ra những gì “nặng ký” được chứa đựng trong đó (như bức tranh đời sống, những thăng trầm lịch sử, các quan hệ xã hội đan chéo nhau…). Tiểu thuyết thì phải lớn về dung lượng trang, nhiều về nhân vật, dồi dào khả năng bao quát hiện thực đời sống cả về chiều rộng lẫn chiều sâu… Tuy nhiên, do tiểu thuyết là thể loại văn học đang biến chuyển và còn chưa định hình, nó gắn với cái hiện tại đang sinh thành nên cũng không cam chịu chấp nhận một hình thức hoàn kết. Cùng với sự phát triển của văn hoá, văn minh nhân loại, tiểu thuyết luôn quẫy cựa để tự làm mới mình và “khơi thông dòng chảy” (chữ dùng của Nguyên Ngọc) dẫn đến khuôn khổ truyền thống của thể loại bị phá vỡ, các quan niệm về tiểu thuyết cũng thường xuyên biến đổi và ngày càng đa dạng. Năm 1988, tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài đã gây “sốc” cho số đông độc giả Việt Nam. Hưởng ứng tinh thần của Thiên sứ, khoảng từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay, ở Việt Nam có sự xuất hiện của khá nhiều tiểu thuyết có dấu hiệu “khác thường”, bất tuân theo qui tắc, làm khuấy đảo đời sống văn học đang phát triển rất từ từ, tiệm tiến, làm cho nó trở nên sôi động, nóng lên với biết bao rạn nứt, thay đổi, báo hiệu một tương lai mới của thể loại. Đó là những tiểu thuyết có xu hướng ngắn gọn, dồn nén, gia tăng mạnh mẽ các yếu tố huyền thoại, trào lộng như tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương (Vào cõi, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thủy), Tạ Duy Anh (Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Giã biệt bóng tối), Hồ Anh Thái (Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm), Võ Thị Hảo (Giàn thiêu), Châu Diên (Người sông Mê), Nguyễn Việt Hà (Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn), mới nữa là Thuận (Made in Vietnam, Chinatown, T mất tích, Pari 11/8, Vân Vy), Nguyễn Đình Tú (Nháp, Hồ sơ một tử tù, Phiên bản, Kín), Đoàn Minh Phượng (Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau)… Mỗi cây bút đều nỗ lực thể hiện cái mới của riêng mình tạo nên bộ mặt văn học đa dạng, ngổn ngang những lối viết.

Tuy còn trong giai đoạn thử nghiệm tìm đường nhưng các tiểu thuyết này đã đem đến một ấn tượng khác lạ, làm đảo lộn kinh nghiệm thẩm mĩ của bạn đọc. ít nhiều, đây đã là một xu hướng tiểu thuyết “có ý nghĩa khơi mở, dự báo về một quan niệm, một mô hình, một bút pháp nghệ thuật mới”[7]. Không thật sự tỏa sáng nhưng ở mức độ nhất định, xu hướng tiểu thuyết này đã bộc lộ những khám phá, sáng tạo đáng trân trọng, đặc biệt, đã làm bật tung mọi khuôn khổ tưởng chừng như đã cũ mòn, ổn định của thể loại để hướng đến chân trời tự do.

Trong muôn mặt đổi thay thì sự “lạ hóa” về kết cấu là điều dễ nhận nhất. Bởi lẽ, trong quá trình sáng tác bất cứ một tác phẩm nào, thì việc đầu tiên của nhà văn là phải tổ chức tài liệu, sắp đặt câu chuyện, xem nên bắt đầu từ đâu, kết thúc ra sao; nên sắp xếp thành mấy chương, mấy hồi, mấy phần, mấy đoạn…; hình dung xem có bao nhiêu nhân vật, nhân vật nào chính, nhân vật nào phụ, bố trí nhân vật nào xuất hiện trước, nhân vật nào sau; quan hệ giữa các nhân vật với nhau, và môi trường các nhân vật hoạt động… Nói tóm lại, nhà văn phải sắp xếp, tổ chức hàng loạt các sự kiện, các cảnh ngộ, các tâm trạng, các tính cách theo một trật tự, một qui luật nhất định để thể hiện nội dung tư tưởng. Tất cả công việc phức tạp đó gọi là tổ chức kết cấu. Kết cấu phù hợp hay không sẽ làm tăng hoặc giảm giá trị của tác phẩm. Vì vậy, cũng như ngôn ngữ, kết cấu là điều kiện tất yếu và phương tiện cơ bản của việc sáng tác nghệ thuật. Mặt khác, trong điều kiện thường xuyên biến đổi của các hệ hình tư duy và giá trị thì kết cấu truyền thống không còn là một thứ công năng tối ưu có thể đảm nhiệm được những đòi hỏi khắt khe của thời đại, cũng không đủ sức đáp ứng những nhu cầu thẩm mĩ mới của độc giả. Do đó, đổi mới văn học cần phải đổi mới trước hết từ kết cấu.

So với truyền thống thì kết cấu của các tiểu thuyết trên có sự phá cách mạnh mẽ, hiện đại hơn, hấp dẫn hơn và cũng khó nắm bắt hơn. “Dường như nhà văn không phải đang tái hiện bức tranh hiện thực mà đang trình bày cách thức họ làm ra các “kết cấu nghệ thuật” như thế nào. Đây là các kết cấu mang rõ tinh thần “khước từ truyền thống”, nghĩa là vượt khỏi mô hình tiểu thuyết quen thuộc, xác lập mối quan hệ giữa văn chương với hiện thực, giữa nhà văn với bạn đọc để tạo ra những kinh nghiệm đọc mới”[5;213]. Mỗi xu hướng tiểu thuyết khác nhau có những mô hình kết cấu khác nhau. Cùng một mô hình kết cấu, mỗi tác giả lại có sự vận dụng sáng tạo khác nhau. Vì vậy, hình thức kết cấu của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này là vô cùng phong phú. Bên cạnh nhiều tác phẩm có kết cấu theo trình tự thời gian tuyến tính kiểu truyền thống (Trăm năm thoáng chốc, Dòng sông mía, Gia đình bé mọn…), các tác phẩm thuộc xu hướng cách tân trên đa phần đều tổ chức kết cấu theo kiểu buông lỏng; đầu cuối không rõ ràng; không - thời gian xáo trộn, đứt gãy, nhảy cóc, đồng hiện; thực - ảo đan xen; các mạch truyện bị xóa nhòa đường biên ranh giới; tương quan giữa các yếu tố nhân vật, cốt truyện, điểm nhìn, giọng điệu, không - thời gian… được triển khai linh hoạt. Tuy không tránh khỏi những vết tì khiên cưỡng hoặc xử lý chưa tinh xảo, những cố gắng trên vẫn thể hiện nỗ lực của các nhà văn nhằm thoát khỏi sự đơn điệu của loại tiểu thuyết như những truyện kể kéo dài. Khi tiếp xúc với văn bản nghệ thuật, bạn đọc thường xuyên rơi vào hoang mang trong mê cung trúc trắc với những móc nối chằng chịt, khó bóc tách để chiếm lĩnh các tầng ý nghĩa của tác phẩm. Dù vậy, xét trên cấp độ tổng quát, vẫn có thể qui vào một số mô hình kết cấu nổi bật: kết cấu lắp ghép (Thiên sứ, Thời của những tiên tri giả, Pari 11 tháng 8, Vân Vy, Giàn thiêu, Chuyện của thiên tài, Thoạt kỳ thủy…), kết cấu đồng hiện (Thoạt kỳ thủy, Trí nhớ suy tàn, Người sông Mê, Mẫu Thượng Ngàn, Chinatown, Khải huyền muộn…), kết cấu lồng ghép (Nỗi buồn chiến tranh, Thoạt kỳ thủy, Khải huyền muộn, Chinatown, Pari 11 tháng 8, Vân Vy …). Ngoài ra còn có thể kể đến mô hình kết cấu phân mảnh hay xoắn bện… Tuy nhiên, lướt qua các tác phẩm trên có thể thấy mọi sự khái quát đều chỉ mang tính tương đối, không tránh khỏi chồng chéo.

Các mô hình kết cấu trên đều dẫn đến vai trò của từng yếu tố và việc bố trí sắp xếp các yếu tố ấy trong kết cấu tác phẩm cũng thay đổi. Điển hình là sự co lại ngày càng nhiều về dung lượng, thay đổi vai trò của sự kiện, cốt truyện, nhân vật… và ngôn ngữ trong tổ chức kết cấu.

Không phải đến bây giờ mà ngay trong thời đại lên ngôi của các bộ tiểu thuyết dài trang thì tiểu thuyết ngắn trang đã xuất hiện. Lướt qua chặng đường văn học thế giới thế kỷ XX cũng có thể kể ra vô số những tác phẩm như thế: Người thứ 41 (B. Lavrênép -1926) - 195 trang tiếng Việt, khổ 13 x 19; Buồn ơi chào nhé (F. Sagan - 1954) - hơn 100 trang, giấy khổ nhỏ; Ông già và biển cả (E. Hemingway - 1965)  - gần 100 trang; Sống mà nhớ lấy (V. Raxputin -1977) - 200 trang; Người xa lạ (A. Camus - 1942) - 147 trang … Rất nhiều tiểu thuyết Việt Nam ra đời từ đầu thế kỷ XX đến trước 1986 cũng có độ dài dao động trong khoảng một đôi trăm trang như Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách), Hồn bướm mơ tiên (Khái Hưng - Nhất Linh), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Làm đĩ (Vũ Trọng Phụng), Đi bước nữa (Nguyễn Thế Phương), Mùa hoa dẻ (Văn Linh)… Nhưng phải đến những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, tiểu thuyết mới có sự giảm thiểu dung lượng rõ rệt như một xu thế tất yếu. Có thể minh chứng bằng sự xuất hiện của một loạt tiểu thuyết có độ dài từ một đến hai trăm trang ở Việt Nam, ngắn nhất là Thiên sứ (Phạm Thị Hoài) - xuất hiện lần đầu tiên trên Tạp chí Tác phẩm văn học với chưa đầy 80 trang, sau được in thành sách có độ dài 174 trang, khổ13 x 19; Vào cõi - 180 trang, Trí nhớ suy tàn - 127 trang, Thoạt kỳ thủy - 163 trang (Nguyễn Bình Phương); Thiên thần sám hối - 120 trang (Tạ Duy Anh)… Hầu hết đều được in trên giấy khổ nhỏ với nhiều khoảng trắng vắng chữ. Tiểu thuyết có độ dài trên 500 trang vẫn xuất hiện nhưng hãn hữu như Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà). Tiểu thuyết “ngắn” và tiểu thuyết có độ dài trung bình chiếm số lượng áp đảo. Tiểu thuyết dài trang chủ yếu là tiểu thuyết lịch sử như Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh); Giàn thiêu (Võ Thị Hảo)… Nhiều người có lí khi lý giải sự thay đổi về dung lượng và  kết cấu của tiểu thuyết nói riêng, thể loại nói chung bắt đầu từ sự thay đổi lịch sử -xã hội. Cuộc sống hiện đại với sự bùng nổ thông tin đã khiến con người cùng một lúc phải làm rất nhiều việc, tiếp thu nhiều luồng tri thức khác nhau. Họ không còn đủ thời gian để đọc các tác phẩm đồ sộ có độ dày hàng nghìn trang. Tính phi trực quan (phi vật thể - hình tượng gián tiếp) của văn học ngày càng tỏ ra ít thuận tiện bên cạnh các phương tiện nghe nhìn có kĩ thuật tối tân. Từ địa vị một loại hình nghệ thuật quan trọng bậc nhất, được mến mộ, yêu thích nhất, văn học hiện nay đang đứng trước những thách thức lớn do tác động mang tính toàn cầu của kinh tế và của một số loại hình văn hóa khác. Nguy cơ này đe dọa đặc biệt đến tiểu thuyết - thể loại tự sự “cỡ lớn” vẫn được coi là cỗ “máy cái” của mỗi nền văn học. Để giữ vững được thế mạnh của mình bên cạnh các phương tiện thông tin siêu đẳng khác thì văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng phải hóa thân vào một hình thức tồn tại mới phù hợp với thị hiếu của thời đại. Để tìm cách “viết nội dung” chứ không phải “kể nội dung” thì tiểu thuyết phải tìm được một phương thức biểu hiện mới sao cho vừa cô đọng vừa mang sức biểu hiện lớn như cách nói của Paul Auster “càng ít càng nhiều”. Khi điều đó được thực hiện thì chúng ta có cơ sở để tin rằng văn học - nghệ thuật ngôn từ bao giờ cũng bộc lộ khuynh hướng tư tưởng sâu sắc hơn và phản ánh hiện thực toàn diện hơn. Không phải ngẫu nhiên mà dân ca Nga được N.V. Gogon cho là lịch sử tâm hồn Nga, Epnêghi Ônêghin được V. Bielinski nhận xét là bộ bách khoa toàn thư của Nga… Cũng có người đi tìm nguyên nhân sâu xa hơn: tiểu thuyết đương đại không nhằm tái hiện lại cuộc sống một cách rộng lớn như các nhà tiểu thuyết trước đây vẫn thường làm mà chuyển trọng tâm sang phía khác. Đó là tính vấn đề trong tiểu thuyết. Điều đáng nói là “sự khiêm tốn về dung lượng không hề ảnh hưởng đến chiều sâu của các vấn đề được đặt ra trong tác phẩm”[1].

Cũng cần nói thêm, không phải tiểu thuyết nào ngắn cũng có kết cấu theo lối mới, không phải tiểu thuyết nào dài cũng có kết cấu theo lối cũ. Nhiều tiểu thuyết ngắn về dung lượng nhưng vẫn tuân thủ mô hình truyện truyền thống. Có thể kể đến các tác phẩm: Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Tường thành (Võ Thị Xuân Hà), Ngụ cư (Thùy Dương), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Bóng của cây sồi (Đỗ Bích Thúy)… Ngược lại, tuy dài về dung lượng nhưng Cơ hội của Chúa và các tiểu thuyết lịch sử nói trên có kết cấu lạ và độc đáo. Rõ ràng, độ dài ngắn của tiểu thuyết “chưa nói được gì đáng kể nếu như chúng không được bảo hiểm bằng những giá trị thuộc tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm”[2] nhưng đó là dấu hiệu đầu tiên của sự thay đổi kết cấu mà người đọc dễ nhận nhất. Dĩ nhiên, sự thay đổi dung lượng phải gắn liền với thay đổi trong tổ chức nhân vật, cốt truyện và ngôn ngữ…

Tiểu thuyết truyền thống coi trọng tính truyện nên sự kiện, cốt truyện và nhân vật đóng vai trò then chốt trong tổ chức tác phẩm. Đó là những tâm điểm để từ đó nhà văn xây dựng các mối quan hệ, sắp xếp các yếu tố làm sao để hiện thực được toát lên một cách sâu sắc nhất, đầy đủ nhất. Ngược lại, tiểu thuyết đương đại do quan tâm đặc biệt đến thế giới bên trong phong phú, phức tạp đầy bí ẩn của tâm hồn con người nên có xu hướng nới lỏng cốt truyện, vai trò của cốt truyện bị giảm thiểu, thậm chí biến mất khiến độc giả hụt hẫng vì không lần tìm được đầu mối câu chuyện. Cốt truyện có khi vẫn tồn tại nhưng bị đảo lộn một cách không có trật tự, cốt truyện có khi chỉ là sự chắp nối những mảnh rời rạc lại với nhau. Bạn đọc khó có thể nhận ra logic bên trong thống nhất của tác phẩm. Sự thống nhất giữa từng phân đoạn với tổng thể và giữa các phân đoạn với nhau bị phá vỡ. Tiểu thuyết trở thành bức tranh của những miếng ghép nhiều màu phản ánh hiện thực phi lý, phi trật tự, hỗn độn, bất tuân theo logic thông thường. Độc giả vì vậy cảm thấy như bị đánh đố giữa mê cung của các con chữ. Họ không thể đọc và lý giải tác phẩm như trước nữa mà phải giải mã, khám phá khả năng biểu hiện vô hạn của ngôn từ. Đối với tiểu thuyết hiện nay, viết cái gì không quan trọng bằng viết như thế nào. Nói như J. Ricardou, nếu tiểu thuyết truyền thống mang tính chất “chuyện của phiêu lưu” thì tiểu thuyết hiện đại mang tính chất “phiêu lưu của chuyện”. Nhà văn bị tước mất quyền lực tối cao và chức năng ban phát những lời răn dạy, sấm truyền. Nhà văn không còn là người thư ký trung thành của thời đại mà là người đưa ra những giả thuyết, nghi vấn hay khả năng… Tiểu thuyết trở thành bản hợp âm nhiều bè, nhiều giọng mà ở đó độc giả và nhà văn có thể cùng tham gia đối thoại với tinh thần dân chủ, cởi mở. Tiểu thuyết đương đại đang bứt tung mọi sự ràng buộc để thực hiện tham vọng phát huy đến tận cùng khả năng vô hạn của chính mình. Kết cấu của tiểu thuyết ngày càng linh hoạt hơn, co giãn hơn với những sáng tạo bất ngờ. Nó đánh mất tính nguyên khối, nguyên phiến và trở nên lỏng lẻo, thiên biến vạn hóa chưa từng thấy. Có lẽ, văn học thời đại nào cũng thực hiện chức năng tải đạo nhưng khái niệm “đạo” với tiểu thuyết đương đại được hiểu không giống như trước nữa vì giờ đây tiểu thuyết phiêu lưu cùng tiếng gọi của trò chơi. Các nhà tiểu thuyết nhìn cuộc sống như một trò chơi, đồng thời cũng biến sáng tác nghệ thuật thành “trò chơi của các hình thức”, không phục vụ cho mục đích thực dụng. Quan niệm này cho phép họ tự do hoàn toàn trong thể nghiệm, sáng tạo, cho dù có những thể nghiệm không được bạn đọc chấp nhận, thậm chí dị ứng. ở tiểu thuyết đương đại, ký ức được xem như một thành tố quan trọng để tổ chức tác phẩm. Ký ức tạo ra không gian tâm lý, thời gian tâm lý và kết cấu theo kiểu “dòng ý thức” hay lắp ghép, rời rạc, gây cho người đọc cảm giác hoang mang, không điểm tựa. Ký ức cũng tạo ra chất kết dính bền chặt giữa các thành tố bộ phận với nhau, giữa bộ phận và chỉnh thể. Có thể dễ dàng nhận thấy điều này qua các tác phẩm: Thiên sứ, Nỗi buồn chiến tranh, Trí nhớ suy tàn, Vào cõi, Thoạt kỳ thủy, Chinatown, Lạc rừng, Và khi tro bụi, Người sông Mê… Khi vai trò của cốt truyện bị tiết chế, phân tán rời rã ở bề mặt thì vai trò của nhân vật, sự kiện cũng bị giảm thiểu theo. Sự kiện trọng đại, gay cấn dường như không còn tồn tại. Sự kiện chỉ là cái cớ để nhân vật suy tưởng, bộc lộ cảm xúc. Nhân vật cũng không còn được khắc họa theo kiểu “kể tiểu sử” hay thiết kế một cách công phu với đáp án có sẵn về số phận, tính cách. Nhân vật của tiểu thuyết Việt Nam đương đại không đến mức bị rút giảm tới mức cực đoan thành “không nhân vật” như các nhà tiểu thuyết Mới nhưng không còn là những mô hình có sẵn. Nhân vật của tiểu thuyết hiện nay “nghĩ” nhiều hơn hành động (Trí nhớ suy tàn, Người sông Mê, Và khi tro bụi, Chinatown…), nếu có hành động thì chủ yếu là hành động bằng ngôn ngữ và các động tác (Pari 11 tháng 8). Xuất hiện trong vùng hiện thực tâm linh với những giấc mơ, dòng suy cảm, miền vô thức, nhân vật có khi bị xóa mờ các đường viền tiểu sử, nhân dạng, trở thành những ký hiệu, ý niệm, tượng trưng tham gia vào trò chơi tiểu thuyết: Chàng Cá Bơn, Dã Nhân (Giàn thiêu), linh hồn của Hoa, Hương, Khánh (Người sông Mê), B, N, M, V, Y, N1, N2 (Vân Vy), T (T mất tích), Hắn (Vào cõi, Chinatown)…

Ngôn ngữ tiểu thuyết cũng vì thế được phát huy hết sức mạnh để thực hiện khát vọng thoát khỏi con đường quen thuộc truyền thống. Thừa hưởng thành tựu triết học hiện tượng học của E. Husserl, sau nữa là học trò của ông - M. Heidegger (thế kỷ XX), triết học ngôn ngữ và ngôn ngữ học hiện đại của F. Saussure cùng sự tiếp thu ảnh hưởng của tư duy văn học hiện đại, hậu hiện đại, vai trò và khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ cũng được các nhà tiểu thuyết Việt Nam quan tâm khai thác triệt để. Sự “lạ hóa” xuất hiện ngày càng nhiều với vốn ngôn ngữ mới được sáng tạo, bổ sung, sự đa dạng hóa cấu trúc câu văn và sự phá vỡ mô hình cú pháp truyền thống. Sự kết hợp nhiều loại hình ngôn ngữ và phong cách diễn ngôn tạo ra khả năng biểu đạt mới. Ngoài việc tăng cường tính đối thoại vốn có của ngôn ngữ tiểu thuyết mà M. Bakhtin đã nói đến, các nhà tiểu thuyết hiện đại còn tăng cường tính đa nghĩa, mơ hồ, khó xác định của ngôn ngữ đến mức khó hiểu, biến ngôn ngữ thành trò chơi, thành những ký hiệu, biểu tượng bí ẩn, chứa “đầy niềm kính sợ”[4].

Cũng cần nói thêm, bên cạnh những đóng góp lí thú rất cần được động viên khích lệ, “Trên thực tế đã có không ít tác phẩm “gây sốc” với “tầm đón đợi truyền thống” của người đọc. Do cái mới không dễ được chấp nhận, do một số thể nghiệm còn rơi vào cực đoan, người đọc như lạc vào mê cung của các con chữ”[7]. Đây là lẽ hiển nhiên vì bạn đọc phải nhận thức tức khắc khi chưa có độ lùi thời gian để lắng lại. Các tiểu thuyết trên là khúc xạ của chính chúng ta, đang đồng hành cùng chúng ta trong khi ngay bản thân chúng ta còn chưa biết đích đến thực sự của chính mình, chúng ta vẫn đang đi tìm mình. Chúng ta chưa dám chắc giá trị mới mà chúng ta cần để thay thế giá trị cũ là gì. Vì thế, cảm giác dang dở và khó khăn là điều không tránh khỏi. Có người than vãn rằng tác giả của những tiểu thuyết này đang “phá bĩnh văn chương”, người khác cho họ không đủ tài năng nên cứ “vẽ bừa” cho qua chuyện, người bức xúc vì bị đánh đố, nghiền ngẫm mãi vẫn không hiểu được ý đồ của tác giả, người không đủ kiên nhẫn đi từ đầu đến cuối quyển sách. Trong số đó, có người nghiên cứu bằng con mắt chuyên nghiệp, có cả bạn đọc tìm đến những tác phẩm loại này chỉ để thỏa mãn trí tò mò về cơn sốt thời thượng. Xét một cách công bằng, trong số các tác phẩm trên, chưa có tác phẩm nào có thể được xem là đỉnh cao trội bật, đáng được xem là tác phẩm để đời. Cũng phải khẳng định không phải cái “lạ” nào cũng là nỗ lực cách tân. Khác người, khác truyền thống chưa hẳn là đổi mới. Khát vọng đổi mới có nhưng một số thử nghiệm chưa đạt đến độ nhuần nhuyễn giữa tư tưởng ý nghĩa của tác phẩm với kỹ thuật tự sự được xem là mới, thử nghiệm chưa đủ lực để tới nơi. Một số tác phẩm được vội vã “lăng xê” quá đà nhưng ngay sau đó bị dư luận đem ra nhìn nhận lại như Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái. Điển hình hơn là trường hợp một số tiểu thuyết đoạt giải trong các cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn gần đây: Cán cờ tre của Trịnh Đình Khôi đoạt giải cuộc thi tiểu thuyết 2002 - 2004 được tác giả Nguyễn Hòa xem là sản phẩm “của một cây bút chưa bộc lộ khả năng nắm bắt các yêu cầu tối giản về thể loại”[3]. Chuyện của thiên tài của Nguyễn Thế Hoàng Linh giải thưởng cho thể loại tiểu thuyết 2004 - 2005 của Hội Nhà văn Hà Nội bị không ít dư luận cho là ánh hào quang “giả” được một số cây bút “đàn anh” nâng đỡ v.v... Vì những lí do đó, các nhà phê bình đặt vấn đề cần xem lại sự công tâm và cả trình độ của Ban giám khảo. Điều này cho thấy đổi mới là nhu cầu tất yếu của văn học nhưng đổi mới cũng là con dao hai lưỡi, nếu điều khiển không “cao tay”, nó sẽ gây tác dụng ngược.

Bạn đọc vì thế cũng cần có thái độ tiếp nhận nghiêm khắc và thận trọng, không loại trừ xu hướng lai căng, vọng ngoại, phản ứng lại truyền thống đang có nguy cơ xâm thực văn học nước nhà./.

 

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Đăng Điệp (2007), “Nghệ thuật tổ chức cấu trúc tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI”, Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Đề tài cấp Viện, Bích Thu chủ biên, Viện Văn học, Hà Nội.

[2] Văn Giá (18/11/2004), Thử nhận diện loại tiểu thuyết ngắn ở Việt Nam những năm gần đây, Evăn.com.vn.

[3] Nguyễn Hòa (29/09/2005), Tiểu thuyết: Khoảng cách giữa khát vọng và khả năng thực tế, Vietnamnet. com. Vn.

[4] Kristjana Gunnars (7/7/2004), On writing short books (về những tiểu thuyết ngắn), Tạp chí World literature Today, số tháng 5, tháng 8/ 2004 (Hải Ngọc dịch), Evăn.com.vn.

[5] Nhiều tác giả (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[6] Trần Đình Sử (chủ biên) (1987), Lí luận văn học, Tập 2, NXB  Giáo dục.

[7] Bích Thu (2007), “Bước đầu nhận diện tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI”, Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, sách đã dẫn.

 
Tư duy văn hóa từ tiền đề ngôn ngữ (Qua nguyên lí tín hiệu học của F.de Saussure)

Theo quan điểm của F. de Saussure, cũng như nhiều nhà khoa học xã hội khác thì ngôn ngữ và văn hóa đều là những thiết chế trừu tượng, chúng dần dần được hình thành cùng với sự phát triển của con người xã hội. Và đặc biệt, khi đề cập đến tiến trình này, không phải ngẫu nhiên mà F. Engels rất coi trọng tiền đề ngôn ngữ ngay trong chức năng kích thích của nó đối với quá trình hình thành phẩm chất con người xã hội: Con người vượt lên bản chất động vật của mình để trở thành con người xã hội, theo Engels, trước hết là nhờ lao động và sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ [Dẫn theo Nguyễn Lai 2012:19] (Tiếc rằng, hình như vế nhấn mạnh cuối cùng đồng thời với lao động là ngôn ngữ, liên quan đến quá trình làm hình thành khả năng nhận thức - vốn là tiền đề sản sinh phẩm chất văn hóa đầu tiên đối với chính bản thể con người - chưa được chú ý khai thác đúng mức, ngay cả đối với một số nhà ngôn ngữ xã hội học nghiên cứu về văn hóa).

Như vậy, theo cách nhấn mạnh của Engels, rõ ràng ngôn ngữ không chỉ là phương tiện để giao tiếp và giao lưu văn hóa, mà thực ra, còn hơn thế - từ trong chiều sâu tiến trình lịch sử - nó còn là tiền đề tạo ra con người xã hội như một sản phẩm văn hóa (cultural product) để từ xuất phát điểm này, con người tạo tiếp những tiền đề chủ quan và khách quan, làm hình thành cho mình nhiều dạng sản phẩm văn hóa tinh tế khác trong quá trình phát triển. Từ đó, nhìn rộng ra, phải chăng ta có thể hiểu: Nếu không có loại ngôn ngữ đầu tiên tạo sức sản sinh tư duy nhận thức nơi con người thì không thể có con người xã hội gắn liền với khả năng hoạt động định hướng, làm hình thành những phẩm chất nghệ sĩ, để từ cơ sở ấy, dần dần con người tạo ra nhiều loại hình ngôn ngữ nghệ thuật dưới dạng không còn là ngôn ngữ ban đầu như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc… nằm trong đối tượng văn hóa.

Như vậy, rõ ràng, một số loại hình ngôn ngữ nghệ thuật thuộc phạm trù văn hóa, tuy cũng bắt đầu từ nền chung của loại ngôn ngữ sơ khởi vốn gắn với chức năng giao tiếp, nhưng những loại hình ngôn ngữ văn hóa này xuất hiện sau, và chúng không thể đồng nhất với loại ngôn ngữ đầu tiên. Đấy là một trong những chỗ phức tạp khó thấy nhất, liên quan đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa mà từ góc độ liên ngành, ta không thể không quan tâm. Theo chúng tôi, không phải tình cờ mà ngay từ chương mở đầu Giáo trình ngôn ngữ học đại cương nổi tiếng của mình, Saussure đã đặt vấn đề về chỗ phức tạp này như sau: “Ngôn ngữ học có liên quan chặt chẽ với các ngành khoa học khác không phải bao giờ cũng hiện ra rõ nét” [Saussure 1973: 27]. Và không dừng lại ở đó, đặc biệt khi nhìn nhận thiết chế chung giữa ngôn ngữ và văn hóa bằng con mắt tín hiệu học từ chiều sâu nhận thức triết học của mình, Saussure đã xác định vấn đề với tầm khái quát và triệt để hơn như sau: “Nếu muốn phát hiện bản chất sự thật của ngôn ngữ, trước hết phải xem nó ở những mặt cùng có chung với tất cả những hệ thống khác cùng loại. Làm như vậy, không chỉ soi sáng cho ngôn ngữ mà chẳng hạn - khi coi những nghi lễ, những phong tục… thuộc phạm vi văn hóa như những tín hiệu - thì những sự kiện này sẽ hiện ra dưới ánh sáng mới, và người ta thấy cần phải tập hợp chúng lại trong tín hiệu học và giải thích nó bằng quy luật của khoa học này” [Saussure 1973: 41]. (Chúng tôi nhấn mạnh: Cần phải tập hợp chúng lại trong tín hiệu học và giải thích nó bằng quy luật của khoa học này!).

Bước đầu vận dụng nguyên lí tiếp cận trên, cơ chế chung nhất của ngôn ngữ và văn hóa có thể được ghi nhận như sau:

(1). Nhìn chung, có thể nói, văn hóa là một thiết chế xã hội, ngôn ngữ cũng là một thiết chế xã hội. Giá trị nhận thức có được về chúng bao giờ cũng được quy định bởi tính ước lệ, vốn tạo ra bởi một cộng đồng xã hội xác định, gắn với một trạng thái không gian và thời gian xác định.

(2). Và sản phẩm tinh thần mang theo giá trị tinh thần gắn với nhận thức trên là trừu tượng; nhưng mặt trừu tượng này bao giờ cũng phải được biểu hiện thông qua một dấu hiệu vật thể để người ta có thể cảm nhận theo một giá trị quy ước (conventional value) nào đó mang tính cộng đồng. Chẳng hạn, một kí hiệu ngôn ngữ, một đường nét kiến trúc, một di vật khảo cổ, một điệu múa dân gian, một cung cách chào hỏi, một tập tục cúng lễ, thậm chí một danh nhân văn hoá…

(3). Tuy không giống nhau, nhưng giá trị tinh thần của những sản phẩm văn hoá khác nhau này đều cùng bị quy định bởi nguyên tắc ước lệ thông qua yếu tố tâm lí xã hội của phạm vi cộng đồng mà từ đó chúng xuất hiện.

(4). Nếu loại bỏ những yếu tố ấy thì tự thân chúng không còn là tài sản văn hóa nữa. Lúc này chúng trở thành những cái xác không hồn, và giá trị của chúng lui về giá trị tự thân, hoàn toàn vật thể, thoát khỏi thiết chế hệ thống văn hóa.

Như vậy, nhìn chung về mặt nguyên tắc, hoạt động ngôn ngữ cũng như hoạt động văn hóa là một loại hoạt động tinh thần mang ý nghĩa tâm lí xã hội của cộng đồng; cả hai - dù xuất hiện dưới dạng sản phẩm cụ thể nào - đều được xác lập dựa trên cơ chế quy ước (conventional mechanism) từ nguyên tắc vừa đối lập vừa thống nhất trong tính chỉnh thể giữa yếu tố vật thể và yếu tố tinh thần của nguyên lí tín hiệu học.

Theo chúng tôi, mặt đồng nhất rất cơ bản của hiện tượng ngôn ngữ và hiện tượng văn hóa được đặt vào quỹ đạo của tín hiệu học để khảo sát theo tinh thần của Saussure như trên là cần thiết và xác đáng về mặt nguyên tắc khoa học. Vì theo hướng khảo sát này, tiền đề tâm lí xã hội gắn với phẩm chất nhân văn - vốn là cốt lõi của cơ chế hình thành văn hóa - chẳng những không bị coi nhẹ mà trái lại còn được đề cao. Đề cao trong việc dựa vào đó và lấy nó làm cơ sở phân giải để từ đó tìm ra mẫu số chung vừa bao quát vừa triệt để đối với cơ chế của sự hình thành ngôn ngữ và văn hóa theo tinh thần nguyên lí của chính Saussure. “Tất cả các giá trị ước định đếu không trùng làm một với yếu tố có thể cảm giác được” [Saussure 1973: 250].

Rõ ràng, đây là một trong những chỗ phức tạp khó thấy nhất nằm trong xuất phát điểm của nguyên tắc khoa học mang tính liên ngành. Khi nói đến cơ chế liên thông sâu kín nhất về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa về mặt cấu trúc, do vậy, những người nghiên cứu liên ngành theo hướng cập nhật nhất không thể không bắt đầu từ tầm nhìn trên.

Tuy nhiên, khi mở rộng mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa theo cách nhấn mạnh của Engels từ chiều sâu – như trên đã có dịp đề cập – thì ngôn ngữ không chỉ là tiền đề tạo ra văn hóa, mà hơn thế, nó còn đem lại hoạt động và sức sống cho tư duy, cho cảm thụ, đem lại phẩm chất nghệ sĩ cho con người để từ đó con người có thể tạo ra văn hóa. Chắc chắn cũng không phải hoàn toàn ngẫu nhiên mà khi đề cập đến hiện tượng trên, nhiều nhà lí luận văn học có quan tâm đến ngôn ngữ học đã nhấn mạnh: “Nếu không có ngôn ngữ đầu tiên vốn làm chỗ dựa giúp cho con người hoạt động có định hướng trong xã hội thì những loại hình ngôn ngữ nghệ thuật thuộc màu sắc, âm thanh, đường nét... không thể trở thành hiện thực” [Khrapchenco 1985: 281].

Theo chúng tôi, nếu nhìn rộng ra thì phải chăng đó cũng chính là nguyên nhân sâu xa giúp ta suy nghĩ để giải thích ngược lại, vì sao thông qua ngôn ngữ con người có thể giải mã được tất cả các loại hình nghệ thuật nằm trong phạm trù văn hóa. Và không phải từ một lí do nào khác, mà chính từ cơ sở của tiềm năng trên, ngôn ngữ trở thành một chất liệu tinh tế, có khả năng tạo thành những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ phản ánh một cách tổng hợp và toàn diện nhiều sắc màu văn hóa cùng với tiến trình miêu tả quá trình phát triển bộ mặt của cộng đồng xã hội như chúng ta thường thấy trong tác phẩm văn chương. Chính từ cấp độ tinh tế của sự sản sinh văn hóa này, ta có thể nói cụ thể hơn như sau: Ngôn ngữ vừa tạo ra phẩm chất văn hóa nơi con người đồng thời nó cũng chính là phương tiện có thể dùng để thể hiện những phẩm chất và sắc thái văn hoá tinh tế ấy cùng với sự phát huy tiềm năng nghệ sỹ của chính con người. Với chức năng này, rõ ràng ngôn ngữ càng tỏ rõ ưu thế tuyệt đối của mình về nhiều phương diện trong tiến trình phát triển văn hóa của cộng đồng, đặc biệt dễ thấy nhất là trong sáng tạo văn chương - một nguồn mạch quan trọng của quá trình phát huy phẩm chất nghệ sĩ tối ưu của con người trong đời sống văn hóa thông qua mạng lưới tinh tế của nhiều cấp độ liên thông. Về phương diện này, chúng ta có thể có rất nhiều minh chứng hết sức sinh động từ đời sống thực tiễn.

Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du là một ví dụ dễ thấy nhất. Như chúng ta biết, không có bức họa đích thực nào đính theo Truyện Kiều. Nhưng ở đây qua các chấm phá bằng ngôn từ, ta có những bức tranh đầy đủ cảnh sắc của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông: Cỏ non xanh rợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa…/ Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Ngoài tường lửa lựu lập lòe đơm bông…/ Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng… Cũng không có bức phù điêu hay pho tượng nào ở đây. Nhưng qua những từ “lẻn”, “mặt sắt đen sì”, “nhờn nhợt màu da”, “cao lớn đẫy đà”… ta có được rất nhiều nét tạo hình, tạo dáng, mỗi người một vẻ, trong những tình huống khác nhau, tưởng như ta có thể sờ mó được nhân vật cụ thể. Ta không nghe được tiếng đàn của Kiều trên trang giấy, nhưng không vì thế mà hiệu lực của tiếng đàn kia không đến đích thực với tâm trạng ta bằng những sắc thái tế nhị nhất. Cùng trong một tiếng tơ đồng/Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm v.v...

Nhưng thực ra, đối tượng tinh thần có liên quan đến đời sống văn hóa thông qua ngôn từ mà Truyện Kiều bao quát đâu chỉ dừng lại ở đó. Tại đây, hiện ra trước mắt chúng ta còn là cả một hệ thống thiết chế xã hội về mặt tập tục, luân thường đạo lí, về mặt quan niệm nhân sinh. Ta có tiết thanh minh với nấm mồ không hương khói làm xúc động lòng người. Cạnh đấy, nổi bật trong cảm nhận chúng ta là cả một đời tài sắc tự nguyện chịu tan nát đến não lòng vì phụng thờ chữ hiếu. Và bao trùm lên tất cả là một loạt những thuyết lí gắn với quan niệm về cuộc sống theo số phận tiền định cho hay muôn sự tại trời…

Như vậy, trong mối quan hệ với văn hóa, ngôn ngữ ở đây, khi đã hoá thân vào nghệ thuật, nó vượt khỏi chức năng sơ đẳng ban đầu để dựng lên một bức tranh tổng hợp vô cùng sinh động về bộ mặt tinh thần của xã hội. Nếu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ không mang theo trong nó những mạch ngầm có liên quan đến bộ mặt văn hóa tinh thần trên nhiều quy mô và từ nhiều cấp độ liên thông như chúng ta thử phát hiện thì chắc chắn nó không còn là một tác phẩm nghệ thuật.

Không phải ngẫu nhiên mà trong nghiên cứu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ ở mức độ tinh tế, ngôn ngữ ở đây được xác định trước hết như là một loại mã tâm lí xã hội đặc biệt, nó là một bảo vật “vừa cổ vừa kim”, nó gắn chặt với truyền thống văn hóa văn minh và đặc trưng dân tộc, nó có vai trò gợi dẫn cảm nghĩ trên cơ sở không tách rời khỏi tiền đề thẩm mĩ của cộng đồng. Nhiều nhà lí luận cho rằng chính kho tàng hình tượng ngôn ngữ có sự cộng đồng lớn hơn so với các đặc điểm khác (như tâm lí và tính cách nhân vật) đối với những nền văn hóa khác nhau nhưng có tính chất chung. Và cũng không phải ngẫu nhiên mà khi đi vào thi pháp, người ta mở ra nhiều bình diện để khảo sát những chức năng khác nhau của ngôn ngữ, và chính ở chỗ ngôn ngữ hóa thân và chịu sự quay vòng nhiều nhất này, ranh giới sáng tạo của nhà văn được ghi nhận một cách có nhiều chứng minh nhất trong mối quan hệ với các mạch ngầm văn hóa của cộng đồng.

Không lạ gì nữa, chẳng hạn, khi ta đọc Truyện Kiều: Thanh minh trong tiết tháng ba/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà! Từ ngữ ở đây là gì? Phải chăng đó là một tín hiệu về phong tục tập quán. Và, cũng như vậy, khi ta đọc: Lấy câu vận mệnh nguôi dần nhớ thương… Quả đây là một nét hiện thực trong tâm trạng của Kiều. Nhưng, nghĩ cho cùng, tâm trạng này đâu tách khỏi tiền đề tâm lí xã hội gắn với quan niệm về “số phận” của cộng đồng xã hội Việt Nam vào những thời điểm nào đó.

Như vậy, dù cho có thông thạo ngôn ngữ đến đâu, nếu người đọc không hiểu được tiền đề tâm lí gắn với nhận thức của xã hội về số phận thì làm sao có thể hiểu được hoàn cảnh để thâm nhập vào sự an ủi sâu kín nhất nơi nỗi lòng của Kiều… Nói khác, nếu người đọc tác phẩm vì lẽ gì đó mà chưa bắt nhập được vào mặt bằng văn hóa chung được kết tinh thông qua những mạch ngầm ngôn ngữ theo hướng nói trên thì những rung động về mặt thẩm mỹ sẽ không có đủ độ sâu để thưởng thức những gì gọi là tính hiện thực vốn có đích thực nơi tác phẩm ấy để hoà nhập vào tâm thức của cộng đồng.

Cũng không phải hoàn toàn ngẫu nhiên mà khi luận giải vấn đề trên, nhiều người thường nhắc đến lời khuyên của đại thi hào Goethe: “Ai muốn hiểu nhà thơ thì cần phải đến đất nước nhà thơ”. Đất nước nhà thơ ở đây chắc chắn không chỉ đơn thuần là miền địa lí không gian. Mà đây là độ dài và chiều sâu lịch sử xã hội gắn với truyền thống văn hóa văn minh cùng với bao nhiêu những yếu tố khác vốn từ bao đời là chiếc nôi, là bầu sữa mẹ thứ hai của nhà thơ. Và tất cả những cái ấy, dù muốn dù không, qua bao đời, chúng ta kết tinh thành thơ, thành nhạc, thành hoạ cho ngôn ngữ trong sắc thái cộng đồng, và chính nó là cái cầu chung để nâng cao và mở rộng mạch ngầm văn hóa cho ngôn ngữ cộng đồng trong quy trình phát triển.

Từ cách nhìn hàm lượng văn hóa nằm trong ngôn ngữ văn học với những cấp độ trên, nhiều nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng, khi đi vào khẳng định và lí giải chân giá trị của những tác phẩm ngôn từ, họ không tách rời nó khỏi thế liên thông từ những tiền đề văn hóa bao quát. Người đang được thế giới ngưỡng mộ về phương diện này là Bakhtin. Tác giả chỉ rõ vấn đề như sau: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa. Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ nền văn hóa của thời đại trong đó nó tồn tại” [Bakhtin 1992: 362]. Và sau đó, tại một chỗ khác, ông còn tiếp tục cảnh báo cụ thể hơn: “Văn hóa như một dòng thác chảy mạnh ở chiều sâu thật sự có tác động đến nhà văn, nhưng đôi khi chính nhà nghiên cứu không hay biết. Lối tiếp cận như vậy không thể giúp ta đi sâu vào những tác phẩm lớn, và khi đã thoát li khỏi tính liên thông từ những mạch ngầm văn hóa như thế thì bản thân văn học hiện ra rất nhỏ bé, không có gì đáng để ý.” [Bakhtin 1992: 363]

Hiểu được những điều bao quát và sâu sắc vừa đặt ra của Bakhtin, chúng ta càng sáng tỏ thêm vì sao những tác giả văn học lớn hầu hết là những nhà văn hóa lớn, và từ đó cũng nói được, trước khi là một tác giả văn học lớn, dù ý thức hay không, chắc chắn họ là người am hiểu sâu sắc cuộc sống tinh thần về nhiều mặt, từ quá khứ đến hiện tại, nhờ sự chuyển tải văn hóa qua ngôn ngữ của cộng đồng mà họ đang gắn bó. Và đặc biệt trong quá trình tự mở rộng các trường tri giác trở thành “một khí quan nhạy bén của cộng đồng” mà họ là người phát ngôn ấy thì - từ trong chiều sâu tâm thức của mình - chắc chắn ở họ khó có sự phân biệt thật rạch ròi đâu là phạm vi hoạt động của ngôn ngữ và đâu là phạm vi hoạt động của văn hóa. Vì trong trường hợp này chúng vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau, chúng luôn luôn ngầm ẩn chuyển hóa liên thông với nhau trên nhiều quy mô và qua nhiều cấp độ trong không gian và cả trong thời gian.

Với cách nhìn bước đầu về mối quan hệ liên thông giữa ngôn ngữ và văn hóa, ta có thể ghi nhận được như sau:

1/ Nhìn chung, từ góc nhìn cấu trúc, có thể nói văn hóa là một thiết chế xã hội, ngôn ngữ cũng là thiết chế xã hội. Giá trị nhận thức có thể có được về chúng bao giờ cũng bị quy định bởi tính ước lệ gắn liền với yếu tố tâm lí xã hội, vốn được tạo ra bởi những cộng đồng xác định.

2/ Và sản phẩm văn hóa mang theo giá trị tinh thần gắn với nhận thức trên là trừu tượng; nhưng mặt trừu tượng này bao giờ cũng phải được biểu hiện thông qua một dấu hiệu vật thể để người ta có thể cảm nhận theo một ước lệ nào đó mang tính cộng đồng từ nguyên lí tín hiệu học.

3/ Trong khi ngôn ngữ hóa thân thành tác phẩm nghệ thuật ngôn từ để phản ánh một cách tổng hợp và sinh động bộ mặt tinh thần của cộng đồng xã hội thì chính ngôn ngữ đã vô tình xác lập những mạch ngầm văn hóa khác nhau trên nhiều cấp độ để tạo thành những dòng chảy xiết liên thông ngay trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ để lôi cuốn người đọc. Tại giao điểm tích hợp này, ngôn ngữ và văn hóa luôn luôn là một phạm trù biện chứng, liên thông đồng thời mãi mãi là một loại thực thể phức hợp sắc màu tương trưng cho tính hòa đồng và cộng hưởng./.

 

GS.TSKH Nguyễn Lai (Đại học Thái Bình Dương, Nha Trang)

 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL
 

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)