Bến cảng - Tranh Vũ Thanh Nghị

CLB hài hước

Hậu duệ của Cuội
Chọt Ngồi làm vua mãi cũng buồn chán, nên Cuội quyết định đi tìm một đệ tử xứng đáng để truyền ngôi. Tìm mãi mà không thấy được ai giỏi ngang, chứ khoan nói là hơn mình trong cái khoản lừa dối, nên Cuội rất buồn. Một...

 






Hiện có 43 khách Trực tuyến
Quê nhà kỳ giáp hạt

Tản văn: Phạm Quang Huy

Ngày xưa ở quê kỳ giáp hạt, có ngày hết gạo phải nhịn cơm mà kiếm tìm cái ăn cho qua bữa, chỉ ưu tiên trẻ nhỏ mấy bữa gạo nấu cháo loãng.

Đồng ruộng mênh mông nhưng bỏ hoang hóa nhiều, đầm đìa thùng vũng bờ bãi, chỗ nào cũng lắm cua cáy tôm cá, cứ chịu khó lặn lội là có cái ăn chống đói.

Chị dâu trao thằng Mầm tôi bế, chị ra đồng bắt cua. Mẹ bảo chị: “Nay trời nắng nóng cua ngôm nhiều, con mang cái giỏ sồng mẹ để trên sàn bếp đấy con ạ!”

Nghe mẹ dặn, chị thay quần áo đội nón xách giỏ ra đi. Tôi bế thằng Mầm ra cửa dạy cháu vẫy tay chào mẹ. Trên ngọn cau ngoài ngõ bày chim sẻ ríu rít bay lượn. Dưới góc hè mẹ con nhà mèo ngồi rình lũ chim. Mèo mẹ rướn lấy đà “phốc” một phát tót lên thân cau, lũ con bắt chước mẹ leo cau. Thằng Mầm hướng nhìn chúng thích thú tới lúc buồn ngủ tay dụi mắt. Hai cô cháu vào võng ngồi nghêu ngao hát: “Con mèo mà trèo cây cau...” ru một lúc thì nó ngủ. Tôi tranh thủ xuống bếp đun niêu cháo, chờ khi dậy cho cháu ăn.

Mẹ sang hàng xóm chơi, khi về bà xin một khúc cây chuối hột non với đủ loại lá thơm chanh ớt. Mẹ bắt tay vào thái ghém làm mẻ rau sống cho bữa canh tối nay. Chiều hè êm ả thoáng đãng, mặt ao nước trong mát, bè rau rút ngọn non dài mập, tôi ào xuống hái nhặt rửa sạch làm gia vị không thể thiếu cho món canh chua.

Mãi xế tà, chị dâu tôi về bê giỏ đầy cua, công sức cả chiều nắng nóng ngoài đồng. Thế là bữa tối có món ăn, tôi bắt tay ngay vào việc rửa cua cho sạch để chị đi tắm giặt. Cua đổ đầyvào nồi hông đất to, những con cua kềnh càng giương lên hung dữ nhưng cũng chẳng thoát khỏi đôi tay chị em tôi xé xác. Rổ cua làm xong chị bảo phải xóc ít muối khi giã nước không tanh và chia thành từng mẻ trong cối giò đá giã và cho vào rá lọc nước, giã đến ba lần mới bỏ bã đi. Nồi nước cốt cua đặc sánh như mật ong, mầu nâu đậm như sông Hồng mùa lũ.

Việc chế biến bữa ăn, chị dâu tôi rất đảm đang thành thục. Về làm dâu, anh trai tôi đi bộ đội, chị quán xuyến mọi công việc giúp mẹ. Mẹ coi chị như con gái. Chị là chị cả của các em, cả nhà đều thương yêu chị.

Thằng Thắng đi học về nhìn nồi cốt canh mừng hớn, ra tay giúp các chị. Nó cặm cụi gảy từng cái mai cua được đầy bát gạch cua vàng ngậy. Chị sắp sẵn cà chua, me, gia vị hành, mỡ. Tôi phi gạch cua, mùi thơm váng cả xóm.

Chị dâu bê nồi cốt cua lên bếp dặn tôi đun khi nước sủi thì cho nhân gạch cua vào nồi, đến lúc sôi chín kỹ, những tảng gạch cua nổi dần lên như miếng bánh đa quạt váng sao. Mẹ bê ra một rổ bánh đa đỏ khô (loại bánh này bà cất kỹ dành cho bữa nay). Tôi cho bánh đa cùng rau rút vào nồi, thế là được nồi bánh đa cua tỏa khói thơm nồng hương vị đồng quê.

Thằng Thắng trải chiếu ngoài sân dọn mâm bát, nồi canh bưng ra. Cả nhà ngồi quây quần. Chị dâu chu đáo múc ra từng bát cho mỗi người. Mẹ cầm cái bát đàn múc phần cho cháu, đợi khi nó ngủ dậy. Mẹ soạn bát mắm cáy xổi vắt chanh ớt sủi bọt chấm với mẻ rau ghém bày đầy trong mâm.

Chị dâu tôi chăm chút múc canh tiếp cho mẹ và hai em. Mẻ rau trong mâm vơi lại đầy. Bát canh nóng tỏa khói ấm lòng dai giòn mềm nâu hồng quyện mùi thơm rau lộc đậm đà vị ớt, hương chanh của bữa ăn gia đình, chả mấy chốc nồi canh chạm đáy. Thằng Thằng vét không sót sợi bánh dính, mới đứng dậy vuốt bụng xách nồi ra cầu ao cho chị rửa.

Bà vào nhà đón cháu Mầm dậy, bế ra ngồi bón cho nó từng muỗm canh mà nựng yêu “Ngoan nào, cháu bà ăn ngoan chóng lớn...” Bà trao thằng Mầm sang cho chị dâu, nó vơ núm vú mút chùn chụt đôi bầu sữa căng tròn.

Thằng Thắng ra vuốt yêu lên má cháu, nhấm nhá với chị: “Mai chị lại bắt cua nhá, canh ngon lắm!”, rồi quay sang hỏi mẹ: “Mẹ còn nhiều bánh đa nữa không?”

Mẹ vừa têm miếng trầu vừa nhẩn nha nói:

“Mẹ còn nhiều, mấy hôm nữa vạt lúa “chăm” ngoài đầm chín, con quẩy về vò kỹ mới có thóc xay gạo làm bánh chứ”

Thắng nghĩ việc quẩy, vò lúa chăm thì giẫy nẩy nói: “Lúa cây bằng cái nơm, con quẩy sao nổi, thóc hạt dai râu dài nhọn như kim đâm vào chân đau lắm”.

Mẹ cười bảo: “Ăn thì dễ làm thì khó”

Chị dâu tiếp luôn: “Em ngoan, học giỏi, lớn đi làm có tiền cho mẹ. Việc thóc lúa có chị”. Thắng quay sang hỏi mẹ: “Mẹ cho con tiền mua mực” mẹ móc túi còn 5 xu đưa cho con. Thắng mừng có tiền vào thắp đèn ngồi học.

Cả nhà ngồi bên cháu chơi. Thằng Mầm tròn mắt nhìn đàn chim xếp thành hình mũi tên bay trên khoảng trời, gió mát hây hây, hương cau thoang thoảng. Trăng đã lên tỏa sáng khắp sân nhà. Thằng Mầm trong vòng tay mẹ hóng chuyện chơi trăng.

Mỗi dịp về quê tôi lại ra thăm chị dâu, ăn bát canh bánh đa cua chị mở quán hàng đầu làng, nay là món đặc sản quê hương. Hai chị em ôn lại thời giáp hạt đã qua với bao kỷ niệm ghi đậm trong ký ức cảnh đầm ấm thắm đượm tình gia đình, lòng bùi ngùi thương nhớ mẹ vất vả tần tảo lần hồi nuôi đàn con khôn lớn./.

 

“Chăm”: Loại thóc chuyên làm bánh đa, bánh đúc cấy ở đất vỡ hoang đầm, đìa. Hạt to có râu như kim nhọn.

 
 

Tạp chí Cửa Biển số 186 (9/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 185 (8/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 184 (7/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 183 (6/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 182 (5/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 181 (4/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 180 (3/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 178,179 (1,2/2017)

Tạp chí Cửa Biển số 177 (12/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 176 (11/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 175 (10/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 174 (9/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 173 (8/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 172 (7/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 171 (6/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 170 (5/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 169 (4/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 168 (3/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 166,167 (1,2/2016)

Tạp chí Cửa Biển số 165 (12/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 164 (11/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 163 (10/2015)

Tạp chí Cửa Biển số 162 (9/2015)