Home Chân dung văn nghệ sĩ
Chân dung văn nghệ sỹ
Phùng Gia Thành - sống hết mình cho nghệ thuật và thể thao PDF. In Email

Mới ngày nào ,chúng tôi cùng ông và NSƯT Ngọc Hiền ngồi uống cafe bên hông Nhà hát lớn thành phố.Tôi còn nói đùa: Chú Thành trông vẫn còn phong độ lắm! ông cười đôn hậu nói:

- Bảy mươi hai tuổi rồi còn gì. Mấy năm nay, mình đi làm trọng tài cho các giải đấu Quyền Anh quốc gia ...Thôi thì, khi nào Nhà nước vẫn còn cần, thì mình phải cống hiến... Ông cười sảng khoái: Về hưu lâu rồi, đi làm vừa vui và còn khỏe nữa...

ấy thế... mà giờ đây ông đã là người thiên cổ.

Năm 1980, lớp chúng tôi tốt nghiệp trường Văn hoá nghệ thuật Hải Phòng về Đoàn Kịch Hải Phòng công tác. Sáng sáng đến cơ quan tôi vẫn thấy một người ăn mặc chỉn chu dắt xe đạp đi ra... Gặp chúng tôi ông cười tươi: Xin chào các diễn viên trẻ. Chúng tôi chào lại – rồi ngơ ngác hỏi nhau: Ai đấy nhỉ! Một diễn viên đi qua nói: Ông Phùng Gia Thành –  Cựu võ sĩ Quyền Anh, cựu diễn viên của Đoàn đấy... Đó là ấn tượng đầu tiên trong tôi về ông, về một con người luôn cởi mở, chân thành và hình như chẳng thù ghét ai bao giờ. Với ông tất cả đều là bạn...

Ngày đó, Đoàn Kịch Hải Phòng có một phòng truyền thống rộng hơn 10m2, treo ảnh các vở diễn cùng chân dung các đạo diễn và diễn viên qua từng thời kỳ... Từ đạo diễn Minh Quân, Việt Hồng, Dương Ngọc Đức... Các diễn viên như Học Hải, Xuân Lư, Bích Lân... (Không biết ngày nay, khi Đoàn Kịch Hải Phòng chuyển sang cơ sở mới, liệu có còn phòng truyền thống đó hay không?). Chúng tôi dễ nhận thấy ông qua vai Thủy thủ trưởng trong vở “Người thuyền trưởng” (Kịch bản:Thiết Vũ, đạo diễn: Minh Quân), nghe nói ông đóng vai này hay lắm.  Mà không hay sao được khi chính ông đã được đạo diễn Dương Ngọc Đức chọn về đoàn sau khi xem vở kịch ngắn “Chiếc tàu kéo” do Ngọc Thủy đạo diễn, ở đó ông đóng vai chính, trong Hội diễn quần chúng ngành đường sông.

Từ Công ty vận tải đường sông 202 về công tác tại  Đoàn Kịch, với lợi thế về dung mạo và giọng nói truyền cảm, nên ông cũng dễ hòa đồng với dàn diễn viên khi đó được đánh giá là rất mạnh của miền Bắc.

Thập kỷ 60, các đoàn nghệ thuật Hải Phòng còn khá nhiều diễn viên chưa học hết cấp 2. Ông được Sở Văn hóa phân công làm Chủ nhiệm lớp bổ túc văn hóa cho diễn viên các đoàn.  Ông còn là giáo viên dạy Toán ở lớp học đó. ở cương vị nào ông cũng làm tròn nhiệm vụ và được mọi người yêu quý...

Mãi đến năm 1987 khi Đoàn Kịch dựng vở “Tiếng hát cuộc đời” (Kịch bản: Sĩ Hanh, đạo diễn: Vũ Đình Phòng -Ngọc Hiền ), chúng tôi mới có dịp được làm việc với ông ở cương vị vũ sư. Thế mới biết, nhảy cổ điển thật là khó... Trên sàn tập , nhìn  những bước đi nhẹ nhàng của ông trong giai điệu Tango, đôi chân uyển chuyển nhưng mạnh mẽ, vững chắc. Có lúc tưởng như ông đang bay trên sàn gỗ, quấn quýt với bạn nhảy cho đến hết giai điệu...

Ông bảo tôi: Trong vở này Quang Long đóng vai chính là bác sĩ, cho nên phải rất chú ý. Từ cách mời bạn nhảy (nhân vật Thu Hương do Hoài Thu đóng) phải rất tinh tế...Rồi ông đếm, ông vỗ tay theo nhịp khiến cho chúng tôi như được tiếp thêm lửa, say sưa luyện tập quên cả thời gian. Sau này vở “Tiếng hát cuộc đời” ra công diễn, được khán giả và các bạn đồng nghiệp ở Hà Nội, Quảng Ninh, Thái Bình... hồ hởi đón nhận.

Trong dịp Đoàn kỷ niệm 35 năm ngày thành lập, tác giả Sĩ Hanh vỗ vai tôi nói: Quang Long đóng vai bác sĩ Hải là vai tôi hài lòng nhất trong 5 đoàn dựng vở “Tiếng hát cuộc đời”. Là diễn viên tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi được chính tác giả ngợi khen. Tôi thầm cảm ơn các đạo diễn và vũ sư Phùng Gia Thành, những người đã giúp tôi xây dựng thành công hình tượng nhân vật đó.

Ông còn kể: Ngày xưa ở Đoàn vui lắm. Tớ là Trung đội trưởng tự vệ, mấy cô này (ông chỉ vào Ngọc Hiền, Vân Thìn ) là hay bắt nạt tớ. Nhưng mà tớ kiên quyết lắm. Tập quân sự là không thể ấm ớ được!

- Nghe đâu ngày xưa chú hát hay lắm - Tôi hỏi.

- À, cũng tạm, bài tủ của tớ là bài “Ngọn đèn đứng gác”, các bạn biết không, trước giờ biểu diễn là tớ lên hát bài đó, rồi đệm ghita cho tốp ca nữ của Đoàn hát bài “Qua sông”.

Có một hôm diễn tại trận địa pháo, tớ đệm đàn đến đoạn điệp khúc: “Qua sông lại ra chiến trường”. Tớ chuyển gam rồi, nhưng các cô ấy quên lời nên cứ quanh quẩn hát mãi câu: Qua sông...(ông lại cười sảng khoái)- phải đến năm lần! Không biết làm thế nào, để giải nguy, tớ phải đập mạnh vào hộp đàn và nháy mắt ra hiệu, lúc ấy tốp nữ mới kết thúc được bài hát. Ra ngoài, tớ thở phào: Hú vía! Các bạn định “Qua sông” suốt đêm à ! Phan Phúc chống chế hộ mọi người : Tại vì bọn em không nghe thấy tiếng đàn! (Bây giờ Phan Phúc là Giám đốc dự án bồi dưỡng năng khiếu nghệ thuật cho Câu lạc bộ Trẻ em khuyết tật Hà Nội).

- Không có đâu bạn ơi, tôi đánh mạnh đến nỗi đứt cả dây đàn đây này... Lần sau mà còn hát như thế nữa là ...cắt bồi dưỡng đấy nhé!

Thế là tất cả cười,cười chảy cả nước mắt...

Thập niên 80, Hiệp hội Quyền Anh thế giới cử chuyên gia sang mở lớp đào tạo trọng tài cho Việt Nam. Ông là một trong những người đầu tiên của Hải Phòng được cấp chứng chỉ AIBA. Những học sinh của ông như Mạnh Dũng, Mạnh Anh, Đức Tuấn...đều đã trưởng thành và có chỗ đứng trong làng Quyền Anh Việt Nam.

Sau này Trung tâm Văn hóa thành phố giao cho ông làm Chủ nhiệm CLB tác giả và đạo diễn. Bằng uy tín của mình, ông đã đứng ra quy tụ anh em có nghề và có tâm với phong trào, tạo dựng CLB thành một tổ chức có tôn chỉ mục đích đàng hoàng và cử các thành viên xuống cơ sở dựng vở, những vở diễn của họ đều là những bông hoa đẹp trong bình hoa Hội diễn nghệ thuật quần chúng thành phố Cảng liên tục nhiều năm.

Tôi còn nhớ,trong lần dựng vở “Đám cưới chuột” (Kịch bản:Duyên Kính) cho các em học sinh trường Lê Hồng Phong (sàn tập là một lớp học được bỏ hết bàn ghế ra ngoài). Ông chỉ bảo cho các em từ cách đi,cách đứng trên sân khấu, chỗ này tại sao phải đi nhanh, chỗ kia tại sao  phải đứng lại. Cậu học sinh đóng vai chính mồ hôi nhễ nhại, ông rút trong túi lấy mùi xoa đưa cho cậu ta lau, rồi còn dặn cứ cầm lấy mà dùng.

 Tôi thầm nghĩ: Sao lại có đạo diễn yêu quý và chu đáo với diễn viên của mình đến thế!

Quay sang tôi ông nói: Phải cấu tứ lại kịch bản cho phù hợp với lứa tuổi Long ạ.

Tôi trả lời ông: Vâng! Cháu cũng nghĩ thế! Vả lại đó là công việc của chú, chú làm đạo diễn mà.

Sau đó, vở “Đám cưới chuột” đã đoạt giải nhất trong Hội diễn nghệ thuật quần chúng thành phố năm ấy.

ấy thế...! Tại sao trong tôi cứ quanh quẩn cái từ “ấy thế” mãi!..

Tại sao không phải là ông vừa đi đâu đó dăm ba bữa nửa tháng để dựng vở hay làm trọng tài Quyền Anh rồi lại về ?!

                                                                                                               Quang Long

 

                                                                    

 
Nhớ nghệ sĩ Lưu Thao PDF. In Email

Tháng 5 rồi mà tiết trời vẫn còn se lạnh. Tôi tha thẩn ngắm nhìn lễ đài đang được những người thợ khẩn trương lắp đặt chuẩn bị cho lễ kỉ niệm 55 năm Ngày giải phóng Hải Phòng (13/5). Hàng phượng trước dải trung tâm thành phố lác đác vài chùm hoa. Phải chẳng do biến đổi của thời tiết mà phượng vĩ năm nay không rực rỡ như mọi năm. Đang  suy nghĩ vu vơ bỗng nhận được tin nhắn: ông Lưu Thao mất lúc 2h30’ ngày 4/5/2010.

Thế là Đoàn Kịch Hải Phòng lại một nghệ sĩ nữa ra đi dẫu biết rằng nghệ sĩ ưu tú Lưu Thao tuổi đã cao (năm nay ông tròn 80 tuổi). Nhưng trong tôi vẫn không khỏi bùi ngùi nuối tiếc một Lưu Thao của Êdốp, Lưu Thao Tể tướng, Lưu Thao- Bảo Đại; Lưu Thao- Phở Thắm... những vai diễn đã làm nên thương hiệu Đoàn Kịch nói Hải Phòng  trong cả nước.

Từ một công nhân Cảng, năm 1964 ông được điều về làm diễn viên của Đoàn Kịch Hải Phòng vai đại tá Bách trong Cửa mở hé đã gắn kết cả cuộc đời ông với kịch nói...

Với vóc dáng to béo, đĩnh đạc và một giọng nói sang sảng, nghệ sĩ đã hoá thân vào vai Êdốp trong Con cáo và chùm nho. Êdốp của Lưu Thao dung dị, thông minh với những câu chuyện ngụ ngôn hóm hỉnh. Bằng tài năng của mình, Lưu Thao đã biến những câu chữ trong kịch bản văn học thành những nốt trầm bổng. Với lối diễn xù xì, giản dị, không khoa trương ông đã tạo cho nhân vật đầy đặn hơn, sống động và đời hơn, khiến cho người xem như hút vào, cuốn vào câu chuyện cho đến hồi kết của vở.

Có lần tôi hỏi đạo diễn Nguyễn Đình Nghi: “Đoàn kịch có 3  nghệ sĩ được chọn vai Êdốp, sao đạo diễn lại chọn nghệ sĩ Lưu Thao?”

Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi trả lời: “Có lẽ anh Thao được sinh ra để đóng vai ấy, cộng với sức lao động miệt mài, tôi rất hài lòng với cách vào vai của anh...”

Khi đó tôi còn là một diễn viên trẻ. Tôi rất thích ngồi bên cánh gà xem các nghệ sĩ biểu diễn nhằm học hỏi cách thể hiện của các nghệ sĩ lớp trước. Ở nghệ sĩ Lưu Thao trong vai vua Bảo Đại, một vị vua cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn nổi tiếng ăn chơi... Trong vở Lịch sử và nhân chứng ; tuy chỉ có 3 cảnh nhưng ông đều phân chia tìm tòi để chọn từng điểm nhấn  cho vai.

Trong vở kịch có đoạn khi nhảy với người tình Lệ Hà (do Tuyết Nga đóng) ông đã chủ động giẫm vào chân Lệ Hà, một tình huống mới nảy sinh, nó tạo ra vô số hành động tiếp theo. Còn gì thuận lợi hơn là được cùng diễn với ông bởi diễn viên ở sân khấu phải luôn hành động. Ở cảnh khi đang mải vui với người tình, tiếng ồn ào của quần chúng cách mạng từ ngoài vọng vào (năm 1946 khi chính quyền mới giành độc lập), ông tiến về phía cửa sổ, chỉ một cái nhếch mép đầy biểu cảm. Ông buông một câu lửng lơ vừa như ra lệnh: “Ờ! ... Ừ ! Đóng tất cả cửa lại ”Cách xử lí đài từ ấy đã lột tả đầy đủ tích cách nhân vật. Đó cũng là cách đặt dấu chấm cho nhân vật và cũng là một dấu chấm cho cú chuyển cảnh đầy ấn tượng...

Ở vai Phở Thắm, cảnh đưa cậu con trai đến nhà xin lỗi cô giáo Nhung (trong vở Đi đến mùa Xuân), ông dừng lại trước cửa, cẩn thận lấy lọ nước hoa bôi lên nguời. Hành động này ta thấy nhân vật Phở Thắm như cao lên... trong sự trân trọng đối tác  mà mình cần gặp như thế nào ! Ông bán phở không muốn trên người mình còn mùi của nước dùng phở, mùi mồ hôi và cả mùi khác của chốn đô thị ồn ã...

Ngoài sự nổi tiếng trong vai diễn, ông còn thành công khi viết kịch ngắn Cái xẻng (kiêm đạo diễn), kịch dài Giã từ (Hoàng Long đạo diễn) cho Đoàn Kịch nói Hải Phòng năm 1986 và Nghiệt ngã (Quang Long đạo diễn) đoạt Huy chương Bạc  Hội diễn nghệ thuật quần chúng toàn quốc tại Ninh Bình năm 1999.

Đời người qua đi kể cũng nhanh, nhưng những vai diễn ông để lại cũng khiến khán giả luôn nhớ đến nghệ sĩ ưu tú Lưu Thao./.

 

                                                                                                                    Lê Quang Long 

 
Người đi nụ cười ở lại PDF. In Email

                     ngoc_hai           

Giữa thời khắc chuyển mùa với bao thay đổi thất thường, người người căng ra vì phải chống chọi với đủ loại dịch bệnh thì một tin buồn đến với anh em văn nghệ sĩ Hải Phòng: Nhạc sĩ Ngọc Hải qua đời. Điều ấy thật bất ngờ khiến không ít người bâng khuâng vì ông như vẫn hiển hiện bằng xương bằng thịt với nụ cười đôn hậu, hóm hỉnh ngồi uống nước chuyện trò cười với anh em tại cơ quan văn phòng Hội.

 

       Có lẽ trong số hơn năm trăm hội viên của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (VHNT) Hải Phòng thì nhạc sĩ Ngọc Hải là người gây ấn tượng nhất cho những người lần đầu gặp mặt. Ông có thân hình như “quả hồ lô” với cái bụng quá khổ, cái đầu hói như thể tóc không bao giờ mọc ở đấy. Nghệ sĩ Tuấn Tiến kể chuyện về chuyến đi đảo Phú Quốc, nhân viên khách sạn phát cho mỗi người một gói dầu gội đầu, riêng nhạc sĩ Ngọc Hải và nhạc sĩ Đức Chính chỉ có một. Mọi người nói đùa chắc hai nhạc sĩ thuộc diện “Rửa mặt thì lâu gội đầu thì chóng” nên để hai anh dùng chung một gói dầu gội đầu cho đỡ phí. Ông có đôi mắt sáng và luôn ánh lên nét hóm hỉnh. Thấy ông xuất hiện anh em đùa: “Sao anh chửa mãi mà chưa đẻ thế?” hoặc: “Bao giờ thì bác ở cữ?”. Lập tức ông cười rất tươi: “Còn chờ ngày lành tháng tốt.” Chỉ vài câu mào đầu như thế không khí quanh bàn uống nước rôm rả hẳn lên. Ông là người hay chuyện, nhớ lâu, và vì thế, ở lĩnh vực nào ông cũng tham gia nhiệt tình. Anh em quen biết lâu ngày thì quý ông ở sự nhiệt tình, chu đáo, làm việc hết mình. Việc gì ông phụ trách đều hoàn thành chu đáo và gây ấn tượng.

 

        Nhạc sĩ Ngọc Hải sinh ngày 17 tháng 11 năm 1939 tại Bắc Giang nhưng nguyên quán ở làng Châu Tảo, xã Phú Thuỵ,  huyện Gia Lâm, Hà Nội nhưng Hải Phòng mới là điểm dừng chân của người nhạc sĩ. Năm 1961, nhạc sĩ Ngọc Hải tốt nghiệp Trường Âm nhạc Việt Nam và được Bộ Văn hoá Thông tin (VHTT) cử về công tác tại Sở VHTT Hải Phòng, tăng cường cho Đoàn Văn công tổng hợp và Đoàn Ca múa Hải Phòng. Năm 1967, nhạc sĩ chuyển về công tác tại Phòng Văn nghệ Sở VHTT chỉ đạo phong trào văn nghệ quần chúng. Năm 1975 được cử đi làm nhiệm vụ đào tạo cán bộ văn hoá cho vùng mới giải phóng. Năm 1979 đến 2001 nhạc sĩ công tác tại Nhà Văn hoá trung tâm thành phố Hải Phòng, là trưởng phòng nghiệp vụ, phó giám đốc chỉ đạo nghệ thuật và đào tạo nghiệp vụ.

 

       Là người được đào tạo bài bản về âm nhạc, nhạc sĩ Ngọc Hải say mê tìm hiểu, nghiên cứu, sưu tầm văn hoá văn nghệ dân gian, đặc biệt là tìm hiểu văn hoá làng xã, phong tục tập quán ở các vùng quê thuộc thành phố Hải Phòng nhằm bổ sung cho việc sáng tác âm nhạc, chỉ đạo và dàn dựng các chương trình ca múa nhạc, các vở diễn của sân khấu quần chúng.

 

       Nhạc sĩ xác định phải giữ gìn vốn quý của dân tộc bằng việc sưu tầm, khai thác, nghiên cứu bằng cái tâm của người nghệ sĩ. Mỗi vùng quê của thành phố biển chứa đựng bao điều lí thú với những giai thoại, truyền thuyết còn nằm đó. Nhạc sĩ Ngọc Hải đã dày công cùng anh em hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hải Phòng toả đi Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo, Đồ Sơn, An Lão..... để tìm hiểu và làm sống lại vốn văn hoá dân gian có nguy cơ bị mai một.

 

         Hoạt động trong lĩnh vực văn hoá văn nghệ, nhạc sĩ Ngọc Hải đã cho ra đời những đứa con tinh thần của mình: “Nghiên cứu về làng xã Hải Phòng” (Tập san “Thông tin Nhà văn hoá 1999–2000); Văn hoá ẩm thực Hải Phòng ( tập san “Thông tin câu lạc bộ” năm 1992); Hát Đúm và ngày hội mở mặt của tổng Phục huyện Thuỷ Nguyên; Nhạc sĩ có nhiều ca khúc được sử dụng, biểu diễn phát trên đài phát thanh truyền hình trung ương và địa phương...Năm 2006, nhạc sĩ Ngọc Hải cùng tác giả Nguyễn Đỗ Hiệp xuất bản tập sách “Hát đúm Phục Lễ - Thuỷ Nguyên - Hải Phòng, một loại hình dân ca giao duyên cổ của người Việt nhìn từ nhiều góc độ”. Đây là tâm huyết của một nghệ sĩ có duyên với thành phố Cảng và có lẽ là tác phẩm nghiên cứu công phu  nhất của ông. Tác giả đã đi nhiều, nghe nhiều và dày công sưu tầm, tập hợp tài liệu, từ đó soạn định, phân loại nghiên cứu để tìm tòi tính độc đáo của hát Đúm. Hát Đúm Phục Lễ Thuỷ Nguyên là loại hình dân ca của người Việt cổ có ý nghĩa và tầm quan trọng về lịch sử nên cần được trân trọng bảo tồn và phát triển. Nhạc sĩ Ngọc Hải là một trong những người góp phần nhỏ bé của mình vào việc làm có ý nghĩa lớn lao ấy. Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huy chương Vì sự nghiệp Văn hoá quần chúng, Huy chương chiến sĩ văn hoá, 2 Huy chương Vàng quốc gia trong các hội diễn Ca múa nhạc toàn quốc và nhiều bằng khên, giấy khen là những minh chứng cho  sự đóng góp của ông.

 

       Đúng như ông tâm sự: “Là người Việt Nam dù làm bất cứ nghề gì, ở cương vị nào, nếu không tìm hiểu về cội nguồn văn hoá dân tộc thì đó là một thiệt thòi lớn, nhất là với những ai làm công tác văn hoá nghệ thuật, nếu không tìm hiểu về văn hoá nghệ thuật dân gian, chắc chắn không thể làm tốt nhiệm vụ của mình.” Ông hiểu sâu sắc rằng ở mỗi con người, cội nguồn văn hoá phải được đúc kết từ những giá trị truyền thống mang đậm bản sắc của văn hoá. Và ông vẫn đang tiếp tục cuộc hành trình.

       Nhưng tiếc rằng bệnh tật đã không cho ông tiếp tục thực hiện ước mơ đau đáu của mình.

       Ông đã ra đi vào đúng ngày chuyển giao của mùa Xuân và mùa Hạ, với 71 tuổi đời. Nhà thơ Hồ Anh Tuấn, Nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng bùi ngùi: “Anh Hải mất đi làm những người ở lứa tuổi chúng tôi cảm thấy hẫng hụt. Tôi nhớ ngày còn trẻ anh em chúng tôi cùng hoạt động phong trào, cùng ca hát nhảy múa với nhau. Tưởng như mới ngày nào. Thế mà anh ấy đã ra đi. Đột ngột quá.!”

 

       Đúng là đột ngột, bởi vì những lần đi tham quan du lịch gần đây, ông vẫn hăng hái tham gia. Ông đã uống cạn bát rượu của người dân tộc ở Hà Giang, ông đã khóc như một đứa trẻ ở nhà tù Phú Quốc và trước mộ chị Võ Thị Sáu. Trái tim người nghệ sĩ dễ rung cảm nay đã ngừng đập để đi vào cõi vĩnh hằng. Ông ra đi nhưng nhiều người vẫn nhớ nụ cười đôn hậu và giọng nói hài hước cùng dáng đi nặng nề thủng thẳng từng bước. Ai ngờ đâu bước đi chậm thế mà con đường phía trước của ông lại nhanh hết./.

 

                                                                                  Dương Thị Nhụn

 

 
Hữu Loan ra đi, "Màu tím hoa sim" còn ở lại PDF. In Email

    19 giờ ngày 18-3-2010 nhà thơ Hữu Loan tác giả bài thơ nổi tiếng Màu tím hoa sim đã đi vào cõi vĩnh hằng tại nhà riêng thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyên Nga Sơn, Thanh Hóa, thọ 95 tuổi. Bài thơ Màu tím hoa sim ở lại cùng ta.

   Mười năm cuối đời ông nếm trải  bao đắng đót, ngày 19-12-2004 Công ty cổ phần công nghệ Việt Vitek VTB đã mua bản quyền Màu tím hoa sim 100 triệu đồng, thời giá khi ấy tương đương 10 cây vàng.

   Màu tím hoa sim được Nguyễn Bính đăng trọn vẹn lần đầu tiên trên báo Trăm hoa vào năm 1956. Bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc với nhan đề áo anh sứt chỉ đường tà.

   Giới văn nghệ và độc giả cả nước thương nhớ nhà thơ Hữu Loan, tôi lang thang trên mạng và tìm được tư liệu quý về ông và người con gái trong bài thơ Màu tím hoa sim:

   " ...Năm 1941 Hữu Loan ra Hà Nội thi tú tài. Có tới 700 thí sinh dự thi nhưng số người đỗ chỉ đếm trên đầu ngón tay, trong só đó có anh học trò nghèo tự học xứ Thanh. Vì mến sự hiếu học của cậu Tú Loan nên bà Đái Thị Ngọc Chất ông Tổng Thanh tra canh nông Đông Dương Lê Đỗ Kỳ đã bàn với chồng là mời Hữu Loan làm gia sư cho các con mình: Lê Đỗ Khôi, Lê Đỗ Nguyên( sau này là trung tướng Phạm Hồng Cư)và Lê Đỗ An.Từ chuyện làm gia sư mà kết thành mối lương duyên giữa Hữu Loan và cô em gái Lê Đỗ Thị Ninh của ba người anh trai này. Họ kết hôn ngày mồng 6 tháng 2(âm lịch) năm 1948 khi ấy Hữu Loan 33 còn nàng 16 tuổi)

   Thế là lý lịch bài thơ Màu hoa sim đã sáng rõ: Đấy là mối tình đẹp nhất mà cũng đau xót nhất  trong kháng chiến chống Pháp của căp trai tài gái sắc này. Bài thơ có sức sống bền lâu từ ấy cho đến nay và chắc chắn rằng nó còn sống mãi. Nếu đem bình bài thơ này sẽ bất lực vì bài thơ vừa giản dị vừa truyền cảm mãnh liệt trong trái tim mỗi người! Màu tím hoa sim có tính dân tộc rất cao, ai đọc cũng hiểu, ai đọc cũng khóc!

   Năm 1990 Nhà xuất bản Hội Nhà văn in tập thơ Màu tím hoa sim, tập thơ vỏn vẹn có mười bài nhưng toàn những bài " rút ruột tằm" của Hữu Loan mà đỉnh là Đèo cả, Màu tím hoa sim!, Tình thủ đô...

   Những năm cuối đời Hữu Loan không viết nữa, có ai hỏi, ông đùa vui:" Thơ đểu"!

   Với Hữu Loan sự chiêm nghiệm về Thơ còn quan trọng hơn viết ra những bài thơ!

   Trong cuộc đời nhà thơ có mười người con và 37 cháu nội ngoại!

   Trong văn nghiệp ông có mười bài thơ để đời!

   Trong cuộc đời ông thồ đá để nuôi con!

   Trong văn nghiệp ông im lặng để chiêm nghiệm!

   Đấy là một trong những người sống đẹp nhất trong đời và trong văn!

   Trong điếu văn ngày 19-3- 2010 chủ tịch Hội nhà văn Hữu Thỉnh nói:"Hữu Loan là sở hữu tinh thần hôm qua, hôm nay và mai sau.Những gì mà ông để lại sẽ còn mãi mãi với quê hương đất nước và sẽ được các thế hệ đời sau nhớ mãi"

   Chúng ta đọc lại Màu tím hoa sim để nhớ về ông, nhà thơ Hữu Loan bất tử!

  

 

                                                                             Trần Quốc Minh

 

 

Màu tím hoa sim

                                 Hữu Loan

 

Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng

Có em chưa biết nói

Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân

xa gia đình

Yêu nàng như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn

nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân

đôi giày đinh

bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến binh

Mấy người đi trở lại

Nhỡ khi mình không về

thì thương

người vợ chờ

bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết

người trai khói lửa

Mà chết

người gái nhỏ hậu phương

Tôi về

không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

thành bình hương

tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh

ngắn chưa đầy búi

Em ơi giây phút cuối

không được nghe nhau nói

không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa

một mình đèn khuya

bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

ngày xưa…

Một chiều rừng mưa

Ba người anh trên chiến trường đông bắc

Được tin em gái mất

trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về rờn rợn nước sông

Đứa em nhỏ lớn lên

Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị

Khi gió sớm thu về

cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim

những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt

Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa

áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau

Chiều hoang tím có chiều hoang biết

Chiều hoang tím tím thêm màu da diết

Nhìn áo rách vai

Tôi hát trong màu hoa

áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm

Tím tình ơi lệ ứa

Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành

Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn

Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím

Tôi ví vọng về đâu

Tôi với vọng về đâu

áo anh nát chỉ dù lâu…

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)

 

 

 
Nhà văn Nguyên Hồng ngày ấy PDF. In Email

Hơn 35 năm, tôi mới có dịp về lại Tân Yên, vùng quê trung du thân thương đã để lại trong lòng tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Nơi đầu tiên đã khơi dậy cho tôi niềm đam mê sáng tác văn học nghệ thuật..., nơi bác Nguyên Hồng - nhà văn lão thành đã dạy dỗ, khuyên bảo tôi những lời chân thật, chí tình mà suốt đời tôi không thể nào quên.

Đọc thêm...
 


 

Video

Liên kết

bao_hp

 

cung_vntt_thanh_nien_hp
dang_cong_san_vn
thanh_pho_hp

 

Số người online

Hiện có 2 khách Trực tuyến
mod_vvisit_counterHôm nay6
mod_vvisit_counterHôm qua30
mod_vvisit_counterTrong tuần6
mod_vvisit_counterTrong tháng160
mod_vvisit_counterBạn là lượt truy cập7987