|
Lý luận phê bình
|
Năm 2010 là năm đặc biệt với văn nghệ sĩ cả nước, bởi diễn ra đại hội của nhiều Hội chuyên ngành văn học nghệ thuật (VHNT). Tất cả những người làm công tác VHNT đều hân hoan, chào đón hướng tới đại hội của ngành mình.
5 năm mới có 1 lần, hội viên ở khắp mọi miền đất nước về tụ hội tay bắt mặt mừng, gặp gỡ, trao đổi, tranh luận, bàn bạc với nhau chuyện hôm nay, chuyện ngày mai, vạch ra phương hướng, mục tiêu, tìm ra những giải pháp tốt nhất và bầu một Ban chấp hành (BCH) có đủ đức, tài, nhiệt huyết để đưa Hội mình đổi mới vững bước tiến lên cùng đất nước, để sáng tạo được nhiều tác phẩm hay, hấp dẫn, mang tầm thời đại. Chúng tôi, những hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam phấn khởi về dự đại hội Điện ảnh Việt Nam lần thứ VII vào tháng 7 này để được đóng góp những ý kiến nhỏ của mình vào tiến trình đại hội với mong ước: Đại hội sẽ thành công tốt đẹp, làm bệ phóng cho điện ảnh nước nhà cất cánh trong hy vọng bay cao, bay xa hơn nữa.
Về báo cáo công tác 5 năm qua chúng tôi cho rằng đây là một bản báo cáo cụ thể đến ôm đồm, cái gì cũng có từ công tác chuyên môn, đến công tác hành chính. Tất cả hai chục trang dàn trải, chung chung không điều gì là chính, là quan trọng. Vấn đề là ở chỗ: 5 năm qua Hội Điện ảnh đã làm được gì cho nền điện ảnh truyền hình nước nhà, có bao nhiêu tác phẩm xuất sắc được giải quốc tế, trong nước có ấn tượng mạnh mẽ với người xem vì tác phẩm mới là điều quan trọng. Có đạo diễn, biên kịch, quay phim, diễn viên nào có thành tựu xuất sắc mang lại vinh quang cho đất nước (chẳng hạn như Nguyễn Vinh Sơn, Bùi Thạc Chuyên, Nguyễn Thanh Vân, Vương Đức, Hồng ánh, Lan Hương, Bùi Bài Bình...). Sự phát triển của điện ảnh 5 năm qua đạt được thành quả đến mức nào, còn những gì tồn tại? Các biện pháp giải quyết trong nhiệm kỳ tới như thế nào? Vai trò của BCH Hội khóa VI ở mức độ nào? Cái được, cái chưa được, những vấn đề tồn tại đặt ra cho BCH khoá VII giải quyết?...
Một phần quan trọng nữa là hướng anh em hội viên trao đổi về công tác nhân sự bầu BCH mới. Rất tiếc, BCH Hội khoá VI không giới thiệu nhân sự BCH và cả vị Chủ tịch Hội khóa mới? Thành thử anh em hội viên phải tự mầy mò, hỏi lẫn nhau ông này, bà nọ, vị kia… thật nan giải ! Một điểm nhỏ nữa, đại hội cơ sở chuẩn bị cho đại hội toàn quốc mà không có vị nào trong BCH Hội về dự, trong khi lãnh đạo địa phương đều có mặt. Kể cũng là hi hữu lắm thay.
Điện ảnh - truyền hình (ĐA-TH) Việt Nam 5 năm qua (2005 - 2010) thể hiện mấy khuynh hướng sau:
Điện ảnh làm phim dự thi hướng tới việc đoạt giải thưởng ở các Liên hoan phim (khu vực, quốc tế và trong nước). Khuynh hướng này khá phổ biến và tập trung cao độ và ít nhiều đã đạt được những thành tựu nhất định. Đáng nói nhất là phim tài liệu (các bộ phim Chốn quê, Đất tổ quê cha, Đất lạnh, Còn lại với thời gian, Đám mây không dừng lại, Người thắp lửa... ) đã tôn vinh phim tài liệu Việt Nam ở khu vực và thế giới. Phim truyện thành công ít hơn nhưng cũng ghi được những ấn tượng rõ nét (đó là các phim: Chuyện của Pao, Chơi vơi, Trăng nơi đáy giếng, Rừng đen, Những người thợ xẻ, Trái tim bé bỏng, Sống trong sợ hãi, Nhìn ra biển cả, Đừng đốt... Mảng phim hoạt hình còn hạn chế nhưng cũng có những giải thưởng. Khuynh hướng này chủ yếu do các Hãng phim Nhà nước thực hiện, có sự đầu tư tập trung, ưu đãi.
Khuynh hướng làm phim thương mại giải trí với các đề tài lạ, hấp dẫn có cốt truyện giật gân, li kì hướng tới thị hiếu lớp trẻ để thu về lợi nhuận cao nhất. Hướng làm phim này chủ yếu được thực hiện từ các Hãng phim tư nhân, các đạo diễn Việt kiều về hợp tác làm phim, đã làm phong phú diện mạo điện ảnh Việt Nam và thu được doanh thu, lợi nhuận (Trai nhẩy, Rung chuông là bắn, Huyền thoại bất tử, Bẫy rồng, Chuyện tình xa xứ, Công chúa Teen và ngũ hổ tướng, Những nụ hôn rực rỡ, Bỗng dưng muốn khóc, Có lẽ nào ta yêu nhau, Ngôi nhà hạnh phúc...). Thị trường phim giải trí thương mại Việt Nam đã có những bước đột phá đạt được hiệu quả đặc biệt làm thay đổi diện mạo điện ảnh Việt Nam trong khu vực về sự đa diện, phong phú của mình.
Khuynh hướng làm phim chính luận theo đơn đặt hàng của Nhà nước thường do các Hãng phim Nhà nước thực hiện đáp ứng yêu cầu phục vụ chính trị, những ngày kỷ niệm lịch sử v.v… Thường những bộ phim làm theo đơn đặt hàng bộc lộ sự công thức, giáo điều, khô khan, thiếu sự hấp dẫn, tính nghệ thuật còn thấp. Các đạo diễn trung thành với kịch bản phim, nên thiếu tính sáng tạo, phim thường chiếu 1,2 lần rồi xếp lưu kho. Có đến gần 15, 16 phim loại này. Tổng cộng số kinh phí làm ta giật mình nhưng hiệu quả đạt được lại tỷ lệ nghịch với kinh phí bỏ ra.
Phim truyền hình Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc nhưng không phải về nghệ thuật, chất lượng mà về số lượng. Khi được Nhà nước quan tâm phải tăng cường phát phim nội trên sóng đạt 50% thời lượng và được ưu ái phát vào các giờ vàng. Các Hãng phim Nhà nước như: Hãng phim truyện Việt Nam, Hãng phim Giải phóng, Hãng phim truyện 1, một số Đài Truyền hình thành phố, các Hãng phim tư nhân ào ạt tham gia làm phim truyền hình, cùng với lực lượng chủ yếu là Trung tâm sản xuất phim truyền hình Việt Nam và Điện ảnh chiều thứ 7. Năm năm qua có đến gần nghìn bộ phim truyền hình ra đời được chiếu trên 9 kênh truyền hình của VTV, VTC, HTV và nhiều Đài địa phương trong cả nước. Chính điều đó làm thị trường phim truyền hình sôi động mang tính cạnh tranh cao độ. Chỉ có điều đáng buồn đó là cuộc cạnh tranh mua bán, giành quyền phát sóng (vì phim được chiếu trên truyền hình có nghĩa là được thanh toán đầy đủ). Còn phần chất lượng phim không có cơ quan “giám định”, đánh giá, thẩm tra, phán quyết… Vì đã có mấy vị quan chức đủ can đảm, có thời gian mà xem 50, 70 tập một bộ phim truyền hình? Cho nên đã có lúc vì sự thúc bách đủ phim phủ sóng, các Hãng phim, các Trung tâm đã nhập kịch bản phim Trung Quốc, Hàn Quốc để chế biến, xào xáo lại đưa vào sản xuất nhanh để kịp thời lên sóng. Cho nên bên cạnh một số phim truyền hình có chất lượng, phản ảnh được hiện thực cuộc sống, tham gia phản biện tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước, làm người xem có cảm tình dần với phim truyền hình Việt Nam như Đất và người, Chạy án, Chuyện phố phường, Đồng tiền xương máu, Ngọn lửa hoàng cung, Cổ vật, Hương đất, Của để dành, Trò đùa số phận, Những nẻo đường phù sa, Khi đàn chim trở về, Cảnh sát hình sự... thì số lượng những bộ phim kém chất lượng được gán tem “mì ăn liền” chiếu khá nhiều. Nó để lại một dư vị nhạt nhẽo, phản cảm với người xem ...
ở lĩnh vực phim truyền hình, vai trò của Hội Điện ảnh Việt Nam còn mờ nhạt, thiếu sự quan tâm đúng mức, coi nhẹ truyền hình, mặc dù truyền hình đang chiếm lĩnh, đi vào cuộc sống khá rộng rãi và có ảnh hưởng ngày một lớn. Đây là một thiếu sót khá rõ của BCH Hội nhiệm kỳ VI.
Với một hiện trạng về ĐA -TH phát triển đều đều như vậy, vai trò của Hội Điện ảnh Việt Nam – Nơi tập hợp những người làm điện ảnh và phim truyền hình cả nước như thế nào? Với bộ máy khoảng 25 - 30 người (kể cả Tạp chí Điện ảnh và Hãng phim của Hội) cùng với số kinh phí “tằn tiện” mà Nhà nước giao cho, chỉ đủ để duy trì các hoạt động hành chính, sự vụ, thì việc làm của BCH Hội 5 năm qua thể hiện sự cố gắng lớn, như mỗi năm mở 3 trại sáng tác, tổ chức các cuộc thi phim ngắn, thi sáng tác kịch bản, giúp đỡ tài trợ khâu sáng tác kịch bản (dù rất nhỏ), duy trì phát triển Tạp chí Điện ảnh làm được một số phim, tổ chức các cuộc hội thảo, gặp gỡ phát triển đối ngoại điện ảnh khu vực và thế giới. Đó thực sự là những cố gắng vượt bậc, thành công của BCH Hội.
Bên cạnh những thành tựu đó còn những tồn tại không nhỏ cần khắc phục.
Các cơ quan quản lý Nhà nước thiếu quan tâm và có các biện pháp tích cực, kích cầu điện ảnh. Có những yêu cầu bức thiết quan trọng để ĐA-TH phát triển không được giải quyết dứt điểm như yêu cầu về phim trường, đổi mới phương tiện kỹ thuật làm phim, công tác đào tạo, hỗ trợ lực lượng trẻ, chế độ chính sách về ĐA-TH hạn chế, lỗi thời. Kinh phí làm phim quá thấp (so với điện ảnh khu vực) vì thế không thể tạo ra một bước đột phá, chiến lược cho ĐA-TH Việt Nam. Những điều này bộc lộ khá rõ khi vừa rồi chúng ta tập trung làm phim lịch sử đó là trường quay, cơ sở kĩ thuật, lực lượng đạo diễn, diễn viên...
Cơ quan Hội điện ảnh Việt Nam hoạt động đều đều, chắc chắn, nhẫn nại nhưng còn thiếu sáng tạo, thiếu các giải pháp táo bạo, sáng kiến để tạo ra môi trường có những tác phẩm lớn, hay, ấn tượng (như việc đầu tư chiều sâu mạnh dạn cho các đạo diễn, biên kịch trẻ tài năng như Bùi Thạc Chuyên, Nguyễn Quang Dũng, Đinh Thiên Phúc v.v… chẳng hạn). Tư tưởng đổi mới của Hội Điện ảnh, Cục Điện ảnh còn hạn chế, thiếu tính độc lập. Điều ấy thể hiện ở các Liên hoan phim quốc gia và giải Cánh diều vàng hàng năm nhạt nhòa, chưa gây được ấn tượng mạnh, sức bật mới. Mảng phim lịch sử thể hiện diện mạo, tầm vóc vĩ đại con người anh hùng, Tổ quốc Việt Nam quá ít. Phim thiếu nhi thật cần thiết, chưa được quan tâm đúng mức. Hội Điện ảnh cần có biện pháp kích cầu 2 mảng phim này. Tạp chí Điện ảnh của Hội “hiền lành” quá, nói về những nghệ sĩ điện ảnh còn ít, mảng phê bình điện ảnh trong nước gần như không có... Nếu chúng ta chỉ bằng lòng với việc khen nhau thì ta sẽ chẳng đi đến đâu cả.
Việc lãnh đạo chỉ đạo các Chi hội cơ sở tỉnh, thành phố còn bỏ ngỏ, để tự phát triển yếu, tản mạn và không có tư cách pháp nhân (con dấu), không kinh phí thật khó hoạt động. Hoạt động của các Hội đồng, Ban chuyên môn do Hội lập ra cầm chừng, thiếu chiều sâu, không giúp đỡ được các hội viên phát triển, công tác của Hội chỉ tập trung vào Thường trực nên sức lan tỏa còn hạn chế, chưa sâu rộng xuống các hội viên...
Để ĐA-TH Việt Nam cất cánh trong hi vọng, biện pháp tích cực, hữu hiệu là đại biểu về dự đại hội tập trung trí tuệ bầu BCH mới đủ năng lực, có đức có tài, tâm huyết, có tính đổi mới, sáng tạo và một chút dũng cảm độc lập trong công việc của Hội, khắc phục những tồn tại, tạo điều kiện tốt cho ĐA-TH nước nhà phát triển.
... Theo ý kiến tôi, một BCH Hội cần người già có kinh nghiệm, hiểu biết về nghề, về hội viên, có quan hệ đối nội, đối ngoại tốt là cần thiết nhưng phải có tư tưởng đổi mới không bảo thủ, cứng nhắc… Còn tất nhiên nên có tỉ lệ anh chị em hội viên trẻ nhiều hơn. Trẻ mà có đức, có tài, tâm huyết với nghề thì quý lắm (như đạo diễn, quay phim trẻ chẳng hạn). Phải tin vào lớp trẻ thì ĐA-TH Việt Nam mới bay lên được (cứ như World Cup vừa qua tại Nam Phi, các
đội bóng có nhiều cầu thủ trẻ, tài năng đều thắng những đội tuyển già cỗi, bảo thủ như ý, Pháp, Anh…). Trẻ sẽ có nhiều đề xuất, sáng kiến táo bạo, và nhất định sẽ dũng cảm, ít bảo thủ hơn lớp già. Chắc chắn thế !
BCH Hội cũng cần có đại diện của một vài Chi hội tỉnh, thành phố. Để việc xã hội hóa, quảng bá điện ảnh được sâu rộng hơn, việc phát hiện tài năng trẻ cho ĐA-TH ở cơ sở rất cần thiết. Cũng nên có đại diện hội viên Việt kiều là đạo diễn, biên kịch để mở rộng công tác đối ngoại , quy tụ tài năng.
Cuối cùng, việc quan trọng là bầu ra được vị Chủ tịch Hội. Một người hội đủ đức tài, có tâm huyết lại đoàn kết, tập hợp được hội viên, có tư tưởng đổi mới, sáng tạo và dám dũng cảm bảo vệ những quan điểm đúng đắn của Điện ảnh nước nhà, lại phải được cấp trên tín nhiệm, chuẩn y… Khó lắm thay !
Nhưng tôi tin và hy vọng ĐA-TH Việt Nam sẽ cất cánh sau đại hội này với sự đoàn kết quyết tâm của toàn thể hội viên ĐA-TH nước nhà dưới sự lãnh đạo của BCH Hội khoá 7, những người được đại hội chọn mặt gửi vàng, thể hiện sự đoàn kết nhất trí cao của 500 hội viên có mặt tại đại hội./.
Nguyễn Long Khánh
|
|
Đại hội Điện ảnh lần thứ VII được tiến hành đúng vào thời điểm nhạy cảm của toàn ngành: Cơ chế quản lý và tổ chức ngành đang có sự chuyển dịch, dù chậm chạp và đầy khúc mắc. Sự chuyển dịch này tác động tới nhiều mặt của ngành, nhưng có thể thấy rõ nhất là sự tác động tới tâm lý của các nghệ sĩ – hội viên Hội Điện ảnh, đặc biệt là những người đang tác nghiệp hàng ngày, trên cương vị nghệ sĩ cũng như quản lý. Khu biệt trong nhóm các nghệ sĩ thuộc các Hãng phim Nhà nước, tâm lý này - từ quan sát của tôi - thì thấy có vẻ mang nặng màu sắc tiêu cực, hay chí ít cũng là tâm trạng thụ động trong lo lắng, thậm chí thêm một chút chua chát khi chúng ta đã “lướt” qua kỷ niệm 50 năm ngày ra mắt bộ phim truyện đầu tiên của nền điện ảnh cách mạng trong lặng lẽ. Khá kỳ lạ là dường như những biến động này rất ít tác động đến hoạt động của Hội, nơi mà lẽ ra phải có phản ứng tức khắc đối với những xung động trong tâm tư nguyện vọng cũng như quyền lợi của nghệ sĩ. Bởi vậy, tôi cho rằng diễn đàn này chính là nơi thích hợp để bày tỏ những suy nghĩ của cá nhân tôi về vấn đề đã được bàn thảo nhiều trên công luận trước thềm đại hội.
Trở lại chủ đề chuyển dịch cơ chế quản lý của ngành điện ảnh. Định hướng chuyển dịch là cơ chế cổ phần hoá, nhằm tạo ra các công ty điện ảnh cổ phần, từ đó khẳng định điện ảnh là một bộ phận của nền kinh tế thị trường với những đặc thù văn hoá, và nhiệm vụ chính trị không thể bỏ qua. Tuy nhiên định hướng này không khiến chúng ta yên lòng.
Tại sao vậy?
Có khá nhiều ý kiến cho rằng tiến trình cổ phần hoá các Hãng phim Nhà nước đồng thời cũng là tiến trình xoá sổ nền điện ảnh cách mạng Việt Nam. Có thể có những cách nói nhẹ nhàng hơn, hoặc đôi khi chỉ là một tiếng thở dài bất lực, nhưng cái định kiến trên quả thực hiện hữu rõ ràng trong tâm trạng nhiều nghệ sĩ. Nhưng nếu đối với nghệ sĩ, đó chỉ là sự cảm thán về khả năng mai một của lịch sử và văn hoá, hoặc thậm chí chỉ là tâm trạng hoang mang trước một hiện thực biến động mà mình chưa nắm bắt được rành rẽ, thì với các nhà quản lý ngành, tôi e rằng sự lúng túng lại đến từ tâm lý sắp để tuột mất một cơ chế mà ở đó cái quan hệ “xin - cho” vẫn là bài ca ngọt ngào quen nghe. Tâm lý này không bao giờ được tuyên ngôn, không bao giờ được nói ra, nhưng nó hiện diện theo cách khó tin nhất: bằng việc tỏ ra lúng túng trong từng bước kế hoạch chuyển đổi, các nhà quản lý của chúng ta đã khiến cho cơ chế cổ phần trở thành con ngoáo ộp, khiến cho các nghệ sĩ vốn rất lơ mơ về các hình thái kinh tế phải sợ hãi cho rằng con ngoáo ộp ấy sẽ nuốt chửng cả một lịch sử dày dặn của điện ảnh nước nhà, và phá huỷ quyền sáng tạo phục vụ cách mạng, phục vụ dân tộc của họ. Nó cũng khiến cho dư luận xã hội tin rằng nghệ sĩ điện ảnh chính là những người ỳ trệ nhất, sợ thay đổi, và không dám nhìn thẳng vào năng lực của chính mình. Cái lỗi của sự chuyển động chậm chạp đã được đổ lên đầu các nghệ sĩ điện ảnh, trong khi thực tế, với bản chất văn nghệ của mình, các nghệ sĩ chính là người mong mỏi sự thay đổi, sự bứt phá hơn bất cứ ai. Bằng chứng là những người năng động nhất, hoặc công khai, hoặc kín đáo đã tự thành lập Công ty hoặc Hãng phim của riêng mình, đối mặt với thị trường và đã rất thành công.
Và như vậy, nhân danh sự bình yên của hàng trăm văn nghệ sĩ trong các Hãng phim Nhà nước, cuộc chuyển dịch tưởng có thể diễn ra quyết liệt từ 5 năm trước, nay sẽ rón rén thay thế bằng một bước đệm có thể tạm yên lòng người, đó là hình thái Công ty TNHH một thành viên.
Hình thái này lợi hay không lợi đối với nghệ sĩ? Một cách thẳng thắn, chúng ta phải cùng thừa nhận rằng đây đích thực là một trò đánh trận giả, với một cơ chế “bình mới rượu cũ”, với vốn Nhà nước vẫn chiếm giữ phần chủ đạo, và với người đại diện vốn Nhà nước đương nhiên được chỉ định từ cấp trên, thì hiệu quả lãnh đạo sẽ vẫn không có gì mới. Đã có khá nhiều ví dụ chứng minh rằng khi con người cụ thể đã không có đủ năng lực đương đầu với cơ chế thị trường, thì đồng vốn Nhà nước trao vào tay họ chỉ như muối bỏ bể, thậm chí sẽ thất thoát do sự thiếu quyết đoán, cũng như ảo tưởng về quyền lực được giao. Bởi vì, với sự trợ giúp dù là nửa vời của Nhà nước, thì các Hãng phim này sẽ vẫn chờ đợi một chỉ tiêu nào đó từ cấp trên thông qua các cuộc đấu thầu kịch bản hàng năm, trong khi tiêu chí của các cuộc “đấu thầu” ấy là rất mơ hồ. Và cũng vẫn với thói quen tư duy và điều hành đó, sự ỳ trệ của các Hãng phim sẽ vẫn như cũ, dẫn đến hiện trạng một phim truyện nhựa được khởi động và đóng máy không thời hạn. Đồng tiền có giá trị lúc mới “trúng thầu” thì một, hai năm sau chỉ còn trị giá một nửa. Từ tâm trạng chán nản của nghệ sĩ nhận dự án dẫn đến thái độ lãn công tự phát chỉ là một bước ngắn, làm xuất hiện cái cơ chế đèn cù: Không hoàn thành kế hoạch, xin bổ sung vốn, các kế hoạch tiếp theo bị đẩy lùi, hoặc bị huỷ bỏ mà không ai phải chịu trách nhiệm cụ thể.
Một ví dụ khác cũng đang gây nhiều băn khoăn. Đó là hoạt động của HODAFILM. Do cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, do người đứng đầu có khả năng vận động tốt, mà những dự án phim được tài trợ hoặc đặt hàng, nghĩa là một phần nguồn đầu tư từ ngân sách vẫn được rót đều về đây. Khoan hãy nói tới cát sê cho đội ngũ tác nghiệp, hay vấn đề tế nhị rằng Quỹ của Hội có nhờ hoạt động rất hiệu quả này mà tăng lên không, chỉ xét trên tần số thành công của các dự án này đã cần có một nghiên cứu sâu sắc và toàn diện để rút ra kết luận cuối cùng: Đây là đơn vị kinh tế thuộc cơ chế nào? Sự thành công và cái còn bất cập là ở đâu? Ai thực sự là chủ sở hữu Hãng phim bao gồm cả tư liệu sản xuất và sở hữu trí tuệ?
ở một chiều hướng ngược lại, ví dụ của Hãng phim truyện I – đơn vị tiên phong cổ phần hoá – cũng đã chứng minh: cơ chế cổ phần không phải là hình thái kinh tế dễ chấp nhận đối với những con người đã quen với sự bình yên trong nghèo nàn của cơ chế bao cấp. Rất nhiều cán bộ, nghệ sĩ trong Hãng không muốn mua cổ phần, và đối tác chiến lược sau rất nhiều cân nhắc cũng đã… rút lui, để lại khoảng trống đáng kể về tài chính cũng như quyền quản lý của một Hãng cổ phần non trẻ. Cái hy vọng rằng “cơ chế mới” này sẽ là động lực thu hút nguồn vốn hợp tác từ bên ngoài đã được chứng minh chỉ là ảo tưởng, vì không nhà đầu tư thông minh nào lại muốn “chung voi với đức ông”. Rốt cục Nhà nước lại phải “mua lại” tỷ lệ cổ phần đã được đối tác chiến lược của Hãng đăng ký và bỏ cuộc, dẫn tới vốn Nhà nước chiếm hơn 70%, và cơ chế quản lý theo đó cũng trở về… gần như cũ. Hiện thực này có thể sẽ bị lặp lại ở các Hãng phim Nhà nước, bởi chưa hề có một nghiên cứu sát sao nào đối với hiện thực đang diễn ra ở Hãng phim truyện I để rút ra một kinh nghiệm hữu ích cho các đơn vị còn lại.
Như vậy, quyền lựa chọn cơ chế bao cấp, cơ chế Công ty TNHH một thành viên, hay cơ chế cổ phần tuy không thuộc về các nghệ sĩ, nhưng lại là nguyên cớ để khá nhiều người phải bối rối. Cái bối rối đến từ tâm lý bị động, và sự mơ hồ về hiện thực có thể xảy ra nếu một trong ba khả năng về cơ chế nói trên được thực hiện. Tôi nói “một trong ba” vì thực tế cũng không ít người đã phấp phỏng hy vọng rằng do Nhà nước vẫn cần một đội ngũ nghệ sĩ thực hiện các tác phẩm có định hướng chính trị nên có thể sẽ vẫn duy trì ở mức độ nào đó cái cơ chế bao cấp đã từng là bệ phóng cho một nền điện ảnh cách mạng trong quá khứ. Điều này thể hiện trong mơ ước về một Trung tâm Điện ảnh Quốc gia, là một số cộng của các Hãng phim Nhà nước hiện nay hoặc một Trung tâm hoàn toàn mới trong khi vẫn duy trì các đơn vị hiện nay với tiến trình cổ phần hoá. Hy vọng này xuất phát từ tâm lý đánh đồng khái niệm cổ phần hoá với tư nhân hoá. Với kiến thức khá sơ đẳng về kinh tế, tôi cho rằng đây là một sự hiểu biết phiến diện, có phần cực đoan. Thực tế thì Công ty cổ phần không phải là một hình thái kinh tế mới mẻ. Khái niệm này đã được nhắc tới trong quyển 3 - Tư bản luận của Mác được viết từ nửa cuối thế kỷ 19, với ý nghĩa coi đó là cơ sở để tiến tới việc xã hội hoá quyền sở hữu tư liệu sản xuất thực hiện dưới hình thức chế độ toàn dân nắm cổ phần. Cũng theo phân tích trong Quyển 3 Tư bản luận, Mác và Ăng ghen cho rằng chủ nghĩa tư bản phát triển cực thịnh sẽ tự động chuyển hoá để xuất hiện nhân tố xã hội chủ nghĩa mà các công ty cổ phần là một hiện diện hữu ích.
Như vậy cổ phần hoá nhất định không nên hiểu là quá trình tư nhân hoá, cũng như coi đó là dấu hiệu của một sự phát triển không định hướng là thái độ cực đoan không đáng có. Nó không chỉ là xu thế bất khả kháng của nền kinh tế Việt Nam khi chúng ta gia nhập WTO, mà còn là xu thế chung của cả thế giới phát triển. Với điện ảnh, khi giai đoạn phục vụ chính trị thuần tuý đã qua đi, chúng ta buộc phải và nên chấp nhận điện ảnh trong vị thế một bộ phận của nền kinh tế. Đương nhiên, với đặc thù văn hoá của điện ảnh, những tác phẩm được làm ra bởi những người chủ đích thực sẽ xuất phát từ tư duy đầy trách nhiệm với Tổ quốc, dân tộc, cộng đồng xã hội mà không cần bất cứ một sự kiểm soát thô bạo nào. Với từng cá nhân nghệ sĩ, nếu ý thức về lịch sử, truyền thống và văn hoá được coi trọng như chúng ta vẫn tuyên ngôn, thì dù lặn ngụp giữa thị trường tự do hay nép mình trong cơ chế bao cấp, sản phẩm của chúng ta vẫn có nội hàm không đổi. Nhưng nếu trong cơ chế bao cấp, chúng ta thụ động chờ đợi một chỉ tiêu kế hoạch khô cứng, và chịu tác động hành chính đầy bí bức, đó là chưa kể những tệ nạn khác… thì trong sự cạnh tranh quyết liệt của cơ chế thị trường, chúng ta chấp nhận sự biến động không ngừng, sự đào thải và khẳng định không ngừng, nghĩa là chúng ta thực sự sống bằng năng lực tự thân, trong môi trường cạnh tranh bằng nỗ lực đổi mới không ngừng bản thân mình. Đặc biệt, với nhiệm vụ chính trị được Nhà nước giao phó thông qua hình thức đấu thầu các công trình đặt hàng theo nguyên tắc công khai, công bằng và khách quan, điện ảnh tư nhân hay công ty cổ phần… sẽ cùng cạnh tranh bình đẳng để giành lấy công việc cho mình, và mang đến cho khán giả những sản phẩm tốt nhất, hay nhất, tức là vừa hoàn thành nhiệm vụ chính trị, vừa nỗ lực tạo nên thương hiệu đáng tin cậy đối với Nhà đầu tư lớn nhất – tức là Nhà nước vậy.
Với ý thức rằng chúng ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, cần được giải phóng tối đa năng lực lao động và sáng tạo trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, thì chính các nghệ sĩ phải chủ động đòi hỏi cuộc chuyển động quyết liệt hơn nữa mới đúng. Không tự đổi mới chính mình, tự tiên liệu tương lai của chính mình một cách chủ động và sáng rõ, thì làm sao văn nghệ có thể đưa vào tác phẩm những dự báo tương lai cho đời sống xã hội Việt Nam một cách thuyết phục, làm sao thoát khỏi thói quen chạy theo thực hiện những tiêu chí hết sức mơ hồ. Và như vậy cũng có nghĩa là chúng ta đang tự chiết bỏ cái giá trị truyền thống mà nền điện ảnh cách mạng đã tích tụ trong 50 năm qua.
Sự ngập ngừng hiện nay không chỉ dẫn đến việc tan rã một đội ngũ đã được dày công đào tạo, và đã có cống hiến không nhỏ, nó còn có thể dẫn đến việc huỷ hoại chính cái thanh danh mà vì nó chúng ta muốn được đứng dậy trong tự hào. Thanh danh của một nền điện ảnh cách mạng cần được kế tục xứng đáng. Tôi từng nghĩ, nếu như cách đây năm bảy năm, chúng ta đã hoàn thành được việc cổ phần hoá các Hãng phim, thì chắc đầu năm 2010 vừa qua, Hãng phim truyện Việt Nam đã có tiền để làm một lễ kỷ niệm long trọng cho sinh nhật lần thứ 50 của mình và tưởng nhớ công lao của một thế hệ điện ảnh khai sáng mà không đến nỗi phải nghẹn ngào im lặng ngoảnh mặt cho qua. Ngoài cuốn lịch mừng Tết âm lịch do Hãng phim truyện Việt Nam làm ra để đem biếu nội bộ, và hôm nay là 50 cuốn phim trong kho lưu trữ của Hãng được đem ra phát hành dưới dạng đĩa DVD, không có một hoạt động tưởng niệm nào đáng kể. Điều đáng buồn là sự kiện trong đại này lẽ ra phải là ngày lễ của cả ngành, thì nó đã bị tất cả những người liên quan cố tình quên. Vì nghèo ư? Vì thờ ơ ư? Hay chỉ vì chúng ta còn quá bối rối với con đường trước mặt mà đã quên mất quá khứ? Như vậy, thái độ níu kéo một cơ chế lỗi thời phải chăng chính là thái độ phủ định chính lịch sử và truyền thống?
Cũng sẽ có người nghi ngờ nhận định này của tôi, bởi cho rằng các nhà đầu tư góp vốn cho điện ảnh trong cơ chế cổ phần sẽ không mặn mà với việc kỷ niệm ngày khai sinh điện ảnh Việt Nam, cũng như sẽ đặt mục đích lợi nhuận lên trên hết, bỏ qua mục đích tôn vinh văn hoá nước nhà. Chúng ta quên mất rằng họ là những doanh nhân người Việt, cũng yêu nước như chúng ta, cũng đau đáu với văn nghệ nước nhà như chúng ta. Do đó, cần phải sòng phẳng mà nhìn nhận rằng việc để cho thanh danh một nền điện ảnh cách mạng bị quên lãng, bị lu mờ là lỗi của chính chúng ta, không phải của khán giả hay nhà đầu tư.
Và từ đây, có thể thấy trách nhiệm của Hội Điện ảnh chính là phải tổ chức các hội thảo đi thẳng vào các vấn đề mà hội viên của mình đang phải đối diện và giải quyết. Đồng thời, Ban chấp hành Hội cũng cần tập trung những cá nhân có đủ năng lực và trí tuệ để tạo nên một niềm tin cho hội viên, khiến Hội Điện ảnh không chỉ là một mái nhà chung ấm áp, mà còn là một lực lượng có khả năng phản biện và định hướng tốt cho ngành.
Trịnh Thanh Nhã
|
|
Nói về nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ và bài thơ Nhớ Bắc nổi tiếng của ông hai Tạp chí có uy tín của Hội Nhà văn Việt Nam là Tạp chí Nhà văn và Tạp chí Thơ đều có bài giới thiệu nhân Ngày thơ Việt Nam lần thứ VIII và chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội nhằm tôn vinh thi nhân và thi phẩm có giá trị này.
Nếu đối chiếu bài thơ Nhớ Bắc của Huỳnh Văn Nghệ trên Tạp chí Nhà văn số 2 năm 2010 (bản B), thấy có nhiều chỗ khác nhau:
Về địa danh và thời gian sáng tác, bản A không ghi, bản B ghi chiến khu Đ, 1946 - 1948.
Bài thơ Nhớ Bắc của Huỳnh Văn Nghệ có 16 câu, chỉ có 3 câu thơ in giống nhau ở hai bản A và B (câu 6, câu 11), còn lại 13 câu thơ đều có chô khác biệt từ dấu câu (dấu phẩy, dấu chấm, dấu cảm) đến từ ngữ (Lạc Rồng/ Lạc Hồng; độ/thuở; Trời Nam/ Ngàn năm; hồn/sầu; phảng phất/man mác; ngàn/nghìn; xa muôn dặm/ôi đất Bắc; cảnh/cánh), thậm chí thiếu một chữ (câu 1) khiến người đọc băn khoăn không biết bản in nào là đúng với nguyên tắc bài thơ (Chúng tôi xin đăng cả 2 bản in để bạn đọc xem xét).
Đề nghị Hội Nhà văn Việt Nam và cơ quan xuất bản báo chí của Hội có biện pháp xác định chính xác văn bản bài thơ Nhớ Bắc của nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ, đảm bảo tính khoa học, tính lịch sử trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn học.
Huỳnh Văn Nghệ
Nhớ Bắc
Có ai về Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Rồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long!
Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu hồn xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương
Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ
Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng
Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm
Muốn trở về quê, mơ cảnh tiên
(Bản in của Tạp chí Nhà văn số 3/2010)
Ai về Bắc, ta đi với,
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ thuở mang gươm đi mở cõi,
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long
Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu sầu xa xứ,
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương
Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ
Mỗi lần man mác hương sầu riêng
Sứ mạng nghìn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại, ôi đất Bắc,
Muốn trở về quê mơ cánh tiên
Chiến khu Đ 1946 - 1948
(Bản in của Tạp chí Thơ số 2/2010)
|
|
Diễn xướng Chầu văn là loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo gắn liền với tín ngưỡng tâm linh của cộng đồng người Việt từ thế kỷ XIV-XV, khi con người phần lớn là dựa vào các thần linh siêu hình để xin được che chở cho họ khỏi bị ốm đau, bệnh tật, khỏi bị giặc dã thiên nhiên tàn phá. Niềm tin và sự sùng bái đó ít nhiều mang lại cho họ một cuộc sống an lành. Với niềm tin vào một thế giới tâm linh huyền bí, con người đã xây dựng nên các thiết chế văn hoá tín ngưỡng bao gồm các đền, miếu, phủ, điện thờ…Trên cơ sở đó là sự hình thành ra đạo tứ phủ, thiên phủ, địa phủ, nhạc phủ, thoải phủ hay còn gọi là đạo mẫu gắn liền với thời gian giáng sinh của Thánh mẫu Liễu Hạnh- một trong hàng thánh Tứ bất tử của Việt Nam. Bên trong các thiết chế tín ngưỡng đó còn thờ các vị thánh trong tứ phủ là Tam toà thánh mẫu: Mẫu thượng thiên, Mẫu thượng ngàn, Mẫu thoải (nước). Tứ phủ chầu bà: Chầu Bà đệ Nhất (Thánh mẫu Liễu Hạnh), chầu Bà đệ Nhị, chầu Bà đệ Tam, chầu Bà đệ Tứ. Các quan hoàng, bà chúa Thập Nhị (12), Vương cô và các cậu bé, cô bé. Sau này nhân dân ta còn thờ các vị nhân thánh như: Đức Thánh Trần triều Hưng Đạo đại vương, Đức Thánh Trần Hưng Nhượng đại vương, Vương cô Đệ Nhất, Vương cô Đệ Nhị là những vị nhân thánh đã cùng nhà Trần đánh tan giặc Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng.
Nghệ sĩ Hoài Linh (TP Hồ Chí Minh) diễn xướng giá Chầu văn quan Hoàng Mười trong Liên hoan
diễn xướng Chầu Văn Hải Phòng mở rộng tại Phủ Thượng Đoạn (Hải An) do Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tổ chức.
Ảnh: Hoàng Dũng
Tuy không thờ trong tứ phủ nhưng khi làm lễ mở phủ hoặc mở đầu một canh hầu thánh, các thanh đồng đều mời các vị quan lớn về làm chứng như: quan Đệ Nhất, quan Đệ Nhị, quan Đệ Tam, quan Đệ Tứ và quan Đệ Ngũ. Cũng từ đó một đội ngũ làm lễ trong tứ phủ được hình thành là các thanh đồng, các ban cung văn. Thanh đồng bao gồm những người có căn duyên một lòng phụng thờ đạo mẫu, cung văn là người có năng khiếu đàn hát những làn điệu chầu văn phục vụ cho các thanh đồng khi hầu đồng.
Các thanh đồng phải may sắm trang phục, đạo cụ bao gồm: khăn phủ diện (khăn đỏ đội đầu khi nhập đồng), quần áo, thắt lưng, khăn các mầu, thẻ ngà, kiếng bạc, vòng hoa tai, chuỗi hạt, nước hoa, son phấn… Lễ phục, xiêm y của mỗi vị thánh khi nhập đồng phải phù hợp với danh hiệu của các vị thánh trong tứ phủ như: Thiên phủ mầu đỏ, địa phủ mầu vàng, nhạc phủ (núi rừng) mầu xanh, thoải phủ (nước) mầu trắng và các đạo cụ cần thiết như: cung, kiếm, cờ, hèo, gậy, mái chèo, mồi đuốc (khi khai quang), quạt…Các cung văn phải biết hát 32 làn điệu Chầu văn, phải biết sử dụng các loại nhạc cụ trong dàn nhạc dân tộc gồm: đàn nguyệt, nhị, sáo, trống to, trống con, thanh la, mõ, phách…
Sự kết hợp hài hoà giữa thanh đồng và cung văn bằng hình thức ca vũ nhạc với 36 giá đồng đã nói lên sự biết ơn các vị thiên thánh và nhân thánh đã làm cho con người từ đời này qua đời khác luôn biết giữ gìn một nền văn hoá lành mạnh, hấp dẫn đến mê lòng. 32 làn điệu chầu văn đã trở thành một thể loại âm nhạc có tính bác học, cung đình tao nhã. Điệu nhạc Lưu thuỷ với 10 điệu hát Xá khác nhau, 5 điệu Cờn, 2 điệu Dọc Bắc, Dọc Nam, 2 điệu Chúc rượu, Chúc trà và các làn điệu Kiều dương, điệu Lý thiên thai, điệu Phủ chúc, điệu Hề cậu, điệu Múa quạt, Múa lụa.
Các làn điệu nói trên trong âm nhạc Chầu văn rất phong phú đa dạng và đa màu sắc không thua kém một số loại hình nghệ thuật khác. Xin nêu ra đây một số làn điệu có tính trang nghiêm, tính sôi nổi phóng khoáng, tính vui tươi dí dỏm, tính trầm tư mặc định của một số giá hầu đồng như hát về giá hầu Trần Hưng Đạo theo điệu hát Dọc Bắc, hát về quan Hoàng Mười theo điệu Dọc Nam, hát về cô Đôi Thượng theo điệu Xá Buồn, Xá Quảng, hát về cô Bơ thoải theo điệu Vãn đàn, điệu Dọc Nam, điệu Vỉa chèo đò…Lời văn trong Chầu văn thật chau chuốt cô đọng, những lời ca mang tính nguyện cầu được các vị thánh chấp nhận tán thưởng mỗi khi cung văn thả một câu Cờn, câu Dọc như hát về quan Hoàng Mười có câu:
“Gươm thiêng chống đất chỉ trời
Đánh Đông dẹp Bắc việc ngoài binh nhung
Thanh xuân một đấng anh hùng
Tài danh nổi tiếng khắp vùng trời Nam”
Hát về quan Hoàng Bẩy có câu ca:
“ Cõi Bắc địa còn truyền cổ tích
Ông Bẩy Hoàng thật đấng trung quân
Sinh thời làm tướng trung thần
Tấc lòng yêu nước thương dân hãy còn”
Hát về cô bé Bắc Lệ có câu:
“ Ai ơi biết cô bé ngàn
Cô đi trẩy hội sơn trang mới về
Suối thiêng soi mái tóc thề
Khi lên mạn ngược khi về miền xuôi”
Hát về chầu Bát Nàn tướng quân có câu:
“Nâu sòng náu cửa từ bi
Cùng mười vệ sĩ chân đi nhẹ nhàng
Chầu Bát Nàn hiên ngang đứng giữa
Đôi mắt ngời như lửa hào quang
Thương dân lệ nhỏ đôi hàng
Trên vai gánh nặng giang san chưa đền”
Hát về Hưng Đạo đại vương có câu:
“Khâm sai đợi lệnh thiên đình
Thay quyền thượng giới giáng sinh phù trần”
Chầu văn đã tồn tại theo chiều dài của thời gian gắn liền với giá trị lịch sử của dân tộc dựng nước và giữ nước. Đặc biệt với đặc điểm xuất xứ từ đạo mẫu, ngày nay Chầu văn phổ biến trên khắp vùng miền của cả nước được công chúng nhiệt tình ủng hộ và khao khát được thưởng thức, đó là một thế mạnh của Chầu văn.
Tuy nhiên kho tàng văn hoá dân gian phong phú, hấp dẫn đó thời gian qua đã bị lãng quên hay nói cách khác chưa được quan tâm đúng mức, nên đã để một số người lợi dụng Chầu văn để làm những việc phi văn hoá như: hành nghề mê tín dị đoan, lãng phí tài sản, tiền bạc như câu ca “ Hết sạch sành sanh được manh vải đỏ”. Ngày nay, Nhà nước quan tâm tạo điều kiện, tự do tín ngưỡng của nhân dân được khôi phục và phát triển, các giá trị văn hoá dân gian của Việt Nam đã được thế giới công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại như: nhã nhạc cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên, dân ca quan họ Kinh Bắc, Ca trù...
Nghệ thuật diễn xướng Chầu văn, một loại hình nghệ thuật có giá trị nhân văn sâu sắc, một giá trị văn hoá luôn hướng tới tính bản thiện của dân tộc đó là đạo thờ mẫu (thờ mẹ) giáo dục, hướng cho con người sống chân – thiện- mỹ. Muốn được tôn vinh là di sản văn hoá thế giới, mỗi người dân và cụ thể là những thanh đồng, cung văn cần phải đấu tranh loại bỏ những hạn chế trong các giá hầu đồng làm cho các canh hầu thánh ngày thêm lành mạnh, trong sáng và tô đẹp cho Chầu văn- một kho tàng văn hoá trường sinh cùng dân tộc./.
Nguyễn Đức Giang
|
|
Nhân kỷ niệm 100 năm ngày phụ nữ quốc tế 8/3. Triển lãm Mỹ thuật Mùa xuân 2 của 4 hoạ sĩ, những người con đất Cảng: Đoàn Lê, Cao Nam Tiến, Duy Khánh, Lê Bá Hạnh như một vườn hoa mang đến tặng người dân thành phố Hoa phượng đỏ một dư âm mùa xuân.
Sở dĩ Triển lãm có tên gọi là Mùa xuân 2 vì cách đây năm năm Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật Hải Phòng đã trưng bày Triển lãm Mùa xuân, một cuộc triển lãm đã gây được thiện cảm, ấn tượng trong lòng bạn bè và người yêu hội hoạ. Phòng trưng bày tuy nhỏ nhưng đã chứa đủ các thể loại: Sơn dầu, bột màu, thuốc nước, khắc gỗ với phong cách đa dạng của mỗi nghệ sĩ, là những tác phẩm tâm huyết, sự miệt mài lao động nghệ thuật trong bao năm tháng đời người. 54 tác phẩm tại phòng tran như những bông hoa xuân nhiều vẻ. Lê Bá Hạnh với mảng đề tài ký hoạ giới thiệu nét đẹp của mọi miền đất nước, với ngọn bút vững vàng, đặt vào cảm xúc mà anh đã xuyên ba chục năm- Bức “Thời chống Mỹ” và tranh khắc gỗ màu của anh đã ôn lại một không khí hào hùng của cuộc chiến tranh mà cả dân tộc đã hy sinh để đem lại Mùa Xuân vĩnh viễn.
Hoạ sĩ Cao Nam Tiến, một hoạ sĩ trẻ đầy triển vọng, đang tìm tòi cho mình một phong cách riêng - Các bức “Sương sớm Cát Bà”, “Xóm thợ ban mai”, “Tia nắng bình minh”, “Làng Việt Hải Cát Bà” là những mảng màu rực rỡ nổi bật nhất tại phòng tranh đã khắc hoạ không khí quê hương Hải Phòng đang đổi mới và hội nhập.
Hoạ sĩ Bùi Duy Khánh với những tranh thuốc nước tinh tế chau chuốt mà gợi cảm. Chỉ bằng chất liệu đơn giản mà thiên nhiên qua con mắt anh như hài hoà hơn, thân thiện với con người hơn. Các tác phẩm “Gia đình”, “Chớm thu”, “Bến đậu”, “Đợi” của anh làm cho không khí phòng tranh thêm đậm đà, ấm cúng. Con người cảm thấy gần nhau hơn lúc xuân sang.
Điểm nhấn ở triển lãm lần này chíng là nữ hoạ sĩ Đoàn Lê, người mà báo chí đã trìu mến gọi là “Nữ sĩ tài danh đất Cảng”. Chị sinh ngày 15/4/1943 tại phố Bengich (Nay là phố Lê Lợi - Hải Phòng) - Sau nhiều năm dấn thân bằng con đường nghệ thuật trải khắp miền đất nước, nay chị đã trở về công tác tại Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật Hải Phòng. Đam mê và miệt mài viết văn, làm thơ, biên kịch, diễn viên, đạo diễn phim và vẽ tranh. Không riêng gì ở Hải Phòng mà đối với giới văn nghệ sỹ cả nước, tên tuổi Nữ sĩ Đoàn Lê đã quá đỗi quen thuộc. Một Đoàn Lê vẫn tiếp diễn trên con đường văn học nghệ thuật với rất nhiều chữ “Sĩ”.
Cuộc đời chị là vậy, đa mang và truân chuyên. Nhà thơ Đoàn Thị Tảo đã viết về chị gái mình:
“... Vấn vương với sợi tơ trời
Tình riêng bỏ chợ, tình người đa đoan...”
Được nhạc sĩ Trọng Đài ngân thành những âm thanh da diết, trầm tư trong ca khúc “Chị tôi”.
Trở lại với triển lãm tranh “Mùa xuân 2” tại Cung Văn hoá Lao động Hữu nghị Việt Tiệp đúng vào dịp tôn vinh ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Đoàn Lê đã làm mọi người có thêm một góc nhìn về vẻ đẹp thanh khiết trong sánh của người phụ nữ “Suý Vân”, “Thiếu nữ và hoa quỳnh”, “Thiếu nữ và hoa ngọc trâm”, “Tắm trăng”, “Xuân”, “Ngã ba mờ sương”... Đoàn Lê đã dành những gì là trong trắng nhất tặng cho cái tuổi xuân thì của người phụ nữ từng sở hữu một thời, từng biết bao đẹp đẽ thánh thiện như để nhắc nửa kia của nhân loại nhớ rằng: Phụ nữ chúng ta đã cống hiến tất cả cho tổ ấm gia đình, con cái, qua bao năm tháng xuôi ngược vất vả - Điều này con là niềm vui riêng của giới nghệ sĩ trước cái nhìn cởi mở hơn nhiều của Hội đồng thẩm định Nghệ thuật thành phố đã cho phép trưng bày các bức tranh nghệ thuật đặc tả riêng về phái đẹp.
Phòng tranh “Mùa xuân 2” cũng chính là món quà - những bông hoa trang trọng nhất hướng về Đại hội Đảng lần thứ XI và Đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội.
Nguyễn Long
|
|
|
|
|
|
|
Trang 1 của 2 |
|
|
Số người online
Hiện có 3 khách Trực tuyến
 | Hôm nay | 2 |  | Hôm qua | 30 |  | Trong tuần | 2 |  | Trong tháng | 156 |  | Bạn là lượt truy cập | 7982 |
|