Home Tin tức
Tin tức
Năm tháng đã qua là ngắn, phía trước mới là dài và khó khăn hơn

Cuộc hội thảo này lấy chủ đề là: “Sân khấu Hải Phòng thời kỳ hội nhập và phát triển” - tức là chủ yếu nói từ năm 1986 - khi Việt Nam bắt đầu công khai và chính thức thực hiện đổi mới, mở cửa, hội nhập với thế giới trên tinh thần “Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả”, nhưng “đổi mới chứ không đổi mầu” và “hoà nhập chứ không hoà tan”. Đồng thời lại có những Nghị quyết, Nghị định, Chỉ thị của Đảng và chính sách của Chính phủ cho nội dung này. Cơ sở nền tảng về nhận thức ở giai đoạn này thể hiện ở NQ TW5 (khoá VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và NQ 23 Bộ chính trị về “Xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật (VHNT) Việt Nam trong thời kỳ mới”. Đồng thời 3 năm gần đây là cuộc vận động “Sáng tác, quảng bá, biểu diễn những sáng tác VHNT hưởng ứng cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Chừng 5 năm trước đã có Nghị định về “xã hội hoá hoạt động trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, giáo dục và y tế” trong đó có giải pháp là tăng cường chất lượng nghệ thuật cao ở một số đơn vị nghệ thuật do Nhà nước thành lập và bao cấp toàn bộ; đồng thời giảm số lượng các đơn vị nghệ thuật nhà nước, làm xuất hiện các đơn vị nghệ thuật bán công lập, các nhóm nghệ sĩ (với ông - bà bầu được công nhận) được tổ chức và hoạt động theo mô hình giải pháp xã hội hoá.

Hình như với các đơn vị nghệ thuật sân khấu công lập của Hải Phòng, sự tác động của các đường hướng trên ít có tác động tới?! Chúng ta lại đã từng lấy ý kiến về dự định thành lập các đơn vị có phiên hiệu Nhà hát trên cơ sở các Đoàn đang ở trong thực trạng không vui cả về nghề nghiệp, ảnh hưởng và tác động của nghề nghiệp đến đời sống xã hội, và chất lượng đời sống không cao của những người làm sân khấu của Hải Phòng.

Có 1-2 nhóm xã hội hoá của Hải Phòng thì khi vào thành phố Hồ Chí Minh dự Liên hoan, tôi không nhận thấy sự hoà nhập của họ với các “đội chân giầy hạng” của Hồng Vân, Thành Lộc, Minh Nguyệt, ái Như, Hoài Linh...

 

Xin cho chúng tôi được hoài niệm về những năm tháng hoàng kim của sân khấu Hải Phòng - thành phố Hoa phượng đỏ thân yêu của chúng ta!

Số phận nào, định mệnh, vòng quay con tạo nào, những người lãnh đạo nào ở Thành uỷ, HĐND, UBND, Tuyên giáo, Sở Văn hoá và kể cả PA25, nhất là công chúng - người xem, khán giả “lý tưởng” nào đã cho chúng tôi những năm tháng tự hào trong dịch chuyển và hạnh phúc là nghệ sĩ của đất Cảng, của Hải tần phòng thủ, của khói bụi xi măng... đứng dưới ánh đèn trên sân khấu.

Đâu rồi?... Và ai là người kế tiếp các NSND Hoàng Anh, Hoàng Lan, Ngọc Thuỷ, Phi Nga...

Và thật là cho phúc phận của sân khấu Hải Phòng ngày ấy là cả Kịch, Chèo, Cải lương Phương Đông đều là các tên gọi có độ vang cao - xa - rộng - dài - hấp dẫn - duyên dáng - điệu nghệ với từng Đoàn, từng nghệ sĩ mỗi đêm đi đến rạp, đến một sân khấu ngoài trời, đến Hà Nội và các tỉnh thành, ở tuyến lửa và hải đảo xa xôi.

Có nữa không?! Hòn đất, Trái tim đứng gác, Lôi vũ, Đời cô Lựu, Nữ tướng Lê Chân...

Có nữa không?! Tấm vóc Đại hồng, Ni cô Đàm Vân,...

Và Chiều Cuối, Cửa mở hé, Dòng sông ám ảnh, Masa, édov, Âm mưu và tình yêu, rồi  Nùng Phai- Gau Dự, Ông lão đánh cá và con cá vàng,...

Hàng người xếp hàng rồng rắn với sấp giấy giới thiệu, các chị em “phe vé” đẫy đà như bia cổ rụt, đâu rồi?

Một thế hệ nữa như: Hoàng Vượng, Hồng Căn, Thu Huyền, Ngọc Thơ...

Chèo thì: Hồng Minh, Lệ Thanh, các anh Quang, anh Phiếm

Kịch thì:  Ngọc Hiền, Lệ Dung, Trần Vinh, Hoàng Long, Thăng Long, Anh Đào...và đó - một NSƯT Lưu Thao vừa ra đi.

Sao lại có thể quên một Bí thư thành uỷ Hoàng Hữu Nhân; một nhạc sĩ Giám đốc Trần Hoàn mặc áo may ô ngồi bên đạo diễn Dương Ngọc Đức để cùng dàn dựng. Họ như vậy - thì sao sân khấu lại không phát triển - họ đi qua ý niệm lãnh đạo và công chức để làm người sáng tạo cùng ta - và làm ra sự lấp lánh vững chãi nhiều tháng năm đã qua - theo kiểu nói cùng nghệ sĩ với công chúng hôm nay là... “bao giờ lại đến ngày xưa”, lại được như xưa! Một ước muốn lùi về thời gian nhưng lại khao khát phẩm lượng của không gian!

 

“Đổi mới” là một thời cơ lớn và một thách thức khắc nghiệt. Chiến trường kinh tế thị trường “nã đạn” vào tất cả, mặt trận thua nhất là đạo lý làm người và nhân cách con người. Vậy mà con người lại là đối tượng chính, là linh hồn, là điều kiện sống còn của văn học nghệ thuật. Con người bị thương về tâm lý, bị căn bệnh thế kỷ, bị vướng vào các tệ nạn xã hội - Con người chân chính kêu cứu văn học nghệ thuật có làm được sứ mạng “giải cứu con người” đương đại không?

Tôi đã từng được sống và thể hiện thế giới tâm lý của nhân vật kịch có tên là Chính bị bỏ rơi, lêu lổng, bụi đời may mà có người tốt cưu mang mà thành anh  bác sĩ cứu mình, cứu người - Vở diễn “Người con cô đơn” mấy chục năm trước đã từng tạo nên một gương mặt nghệ sĩ, và Đoàn Kịch Hải Phòng ngày đó bán vé theo từng đợt diễn.

Tôi không bao giờ quên ông Woòng, ông Đoan đã cho tôi len lén vào ngồi xem nhờ ở cái ghế gỗ cuối rạp. Được xem - thì vượt qua cả xấu hổ mà xin xỏ - xem được là một hạnh phúc.

Ôi! thời oanh liệt của sân khấu, nay còn đâu!

Nghệ thuật là sản phẩm (tinh thần) của (đời sống) xã hội.

Vậy trong hội nhập - khi mà văn hoá nghệ thuật bao năm được coi là sản vật báu bửu của tư tưởng thì nay được gọi là “hàng hoá” có thêm chữ “đặc biệt”

Hàng hoá thì nhiều loại - Người mua thì nhiều tầng

Đã có cầu thì có cung...và có cả đặt hàng!

Và sẽ có ngay hàng nhái, hàng kém phẩm chất, hàng giả.

Một mặt vẫn yêu cầu phải đạt sự chính thống có tư tưởng và nhận thức, một mặt lại cần giải trí (cho dù là lành mạnh?!) ngày trước văn học nghệ thuật hướng dẫn nhận cảm thẩm mỹ của người xem - nay họ là “thượng đế” - họ “kéo” ta đi, ta - có khi chỉ làm dịch vụ mà thôi (hát đám cưới, diễn tân gia, kèn trống ca cải lương đám tang ở phía Nam, ...hát cầu ngư, múa rồng khởi công động thổ, rồi tiểu phẩm hài, trích đoạn, chương trình tổng hợp...)

Cần có một sự đổi mới thực sự, quyết liệt từ nhận thức trong chỉ đạo, trong định hướng và lựa chọn. Đổi mới về cơ cấu và tổ chức hoạt động của từng đơn vị sân khấu của Hải Phòng. Phải có gương mặt nghệ sĩ tiêu biểu được nhắc đến, được nhiều người biết tới, được đồng nghiệp nể trọng. Hình như sân khấu Hải Phòng nhiều năm qua không có được điều này! Hay là đã mất?!

 

Các bạn có nghĩ đến sự phá vỡ tính bảo thủ và sự bằng lòng nào đó của mình, về mình không?

Tại sao nhiều người trong chúng ta - phải xa quê - mà thành đạt. Có tiến sĩ Vũ Tự Lân, có nhạc sĩ Vũ Ngọc Quang, có nhà viết kịch Anh Biên, cao hơn là NSND Dương Ngọc Đức, rồi tiến sĩ khoa học về âm nhạc như Phan Lê Hoà, và dường như các bạn cũng xếp tôi, xếp tiến sĩ - tác giả Trần Đình Ngôn và một số anh chị em nữa - cũng vào diện trưởng thành và thành đạt? - Một NSƯT Ngọc Hiền đau đáu học, dạy học, viết - đây kia cũng là một người thành đạt.

Chúng tôi đã chọn sân khấu là lẽ sống và tự bồi đắp cho mình những điều cần, vô cùng cần - như máu thịt, như không khí để thở, như cơm ăn nước uống bằng kiến thức, bằng định mệnh nghề nghiệp. Chúng tôi tự làm khổ và dầy vò mình để khá dần lên, vì Hà Nội là nơi sàng lọc khắc nghiệt, nếu anh không muốn “lọt sàng” thì.. “xuống đất”!

Ta cùng nhau xem lại là từ 1986 đến cuộc hội thảo 2010 này, các đoàn sân khấu của Hải Phòng dàn dựng được bao nhiêu vở diễn, theo các đề tài nào, có gì là mới trong sáng tạo để mà nhớ, có bao nhiêu vở diễn đi thẳng vào các vấn đề nóng bỏng của đời sống xã hội đương đại, vở nào có tính dự báo tạo nên tranh luận nghề nghiệp, bao nhiêu đêm diễn ở Hà Nội để đón nhận thông tin, sự phê chuẩn của báo chí.

(Tôi nhớ là nhiều năm trước - các Đoàn đều “lên” Hà Nội theo kế hoạch của hàng năm, diễn và bán vé tưng bừng hàng đợt, bạn nghề nể trọng và yêu mến chúng ta, báo chí tốn nhiều giấy mực về Kịch, Chèo, Cải lương Hải Phòng)

Vì sao lại không còn được sinh hoạt nghệ thuật đó. Chúng ta  trở về với vị trí đúng là, chỉ là của một địa phương mà không có được nữa những phẩm chất học thuật cấp trung ương.

Từng Đoàn của chúng ta sẽ trả lời thế nào trước mấy câu hỏi bản lề nhất về:

- Khuynh hướng nghệ thuật?

- Phong cách nghệ thuật?

- Dàn kịch mục?

- Đội ngũ sáng tạo và biểu diễn?

Đến đây lại xin chia sẻ với các bạn về những khó khăn nội tại và ngoại tại của một Đoàn, của từng người. Ai không muốn tốt hơn, vinh quang hơn, giầu có hơn, nhiều năng lực để có hiệu quả cao hơn trong sáng tạo nghệ thuật với khát khao có nhiều người xem hơn. Nhưng, muốn là một chuyện, điều kiện, kể cả sự gặp may mà đạt được lại là một chuyện khác.

Và tình hình này “bị” phổ biến ở nhiều Nhà hát trung ương, Đoàn lớn của nhiều tỉnh, thành phố. Sân khấu lúc này là một bức tranh nhiều mầu, nhưng yếu cả về sự khẳng định hình hoạ, hoà điệu bởi thiếu sự đậm nét.

Sân khấu là một qui trình đòi hỏi chuyên nghiệp cao của người làm, đòi hỏi một trình độ cao tương ứng của người xem, và cần thiết vô cùng khi có được những người lãnh đạo am tường về nghề nghiệp và biết tạo dựng các điều kiện nghệ thuật cho nghệ sĩ.

Có gì được gọi là riêng của bản sắc sân khấu, tính cách, phong cách của nghệ thuật do những người con công dân của thành phố biển này tạo ra?

Khi giống nhiều người thì ta đã không còn là mình!

(Tôi nhớ một xử lý về người vợ múc nước giếng dội lạnh đi những khát khao dục vọng tự nhiên trong vở chèo Trần Cau! Nhớ - vì nó riêng biệt của sáng tạo một lần và không lặp lại sau đó - Cùng với đó là nét biên đạo của Hồng Minh)

Vậy thì rất cần tính cách, cần gương mặt riêng của sân khấu Hải Phòng.

Có ai đó bảo ta là đồng chua nước mặn, là ăn sóng nói gió, là mồ hôi dầu...thì xin vâng - đó là miền biển sú vẹt quê ta với đầy bão gió. Nhưng khi những yếu tố đó cần trở thành chất liệu của nghệ thuật thì nó lại không được “thô” tự nhiên - nó cần sự sang trọng của nhận thức văn hoá, sự tinh tế trong ứng xử, sự lãng mạn bay bổng trong tư duy, sự đồng cảm và nhất là đồng vọng từ khán giả (khán giả là đối tượng để ta đến với họ cũng cần lựa chọn theo một tiêu chí nào đó, ai là chính cho từng vở diễn?)

Như một đồng nghiệp lớn tuổi tôi tin các bạn, nếu các bạn có khát khao tạo cho mình một lẽ sống “xa hoa đẹp đẽ” với sân khấu, vì sân khấu, như một khán giả khó tính nhưng bao dung cho tôi quyền chờ đợi các bạn.

Nói thì dễ ở diễn đàn này, nhưng cứ từ tâm mà nói với nhau, rồi lại cùng bên nhau tháo gỡ, động viên nhau làm chứ lúc này...nếu chỉ là “thưởng thơ” và chằn chặn với đồng lương, bồi dưỡng của sân khấu cho ta mà còn ở lại làm “ông vua bà chúa” dưới ánh đèn mầu đã là một sự dũng cảm cần khích lệ, cần yêu thương trân trọng và ghi công trạng văn hoá rồi.

Tôi cám ơn nhiều năm tháng đã trưởng thành ở sân khấu Đoàn Kịch trên quê hương biển này. Tôi cũng nhận được nhiều tình cảm và nghĩa cử bao dung. Nhưng cuối cùng thì vẫn là chính mình chống lại mình, đòi hỏi bản thân thì cũng là được một số việc, một số điều gì đó!

Sẽ là bảo thủ để mơ về một sân khấu Hải Phòng xưa!

Sẽ là vô lý nếu không tạo dựng nên được một bộ mặt sân khấu Hải Phòng của thời kỳ hội nhập và phát triển đầy thách thức và cam go này.

Chỉ có điều là: bắt đầu từ đâu? cùng với những ai? với các điều kiện nào?

Đó là tâm sự của tôi với các bạn nghề sân khấu của quê hương biển./.

                                                                                 NSƯT Lê Chức

                                                        (Phó Chủ tịch thường trực Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam)

 
Đền Gắm, một ngôi đền kỳ diệu

Trên bán đảo cửa sông Văn Úc, nơi toạ lạc đền Gắm, một ngôi đền kỳ diệu, được xây dựng từ năm 1190.

Điều kỳ diệu đầu tiên đáng nói ở đây là hơn 800 năm qua, biết bao cơn bão đã đổ vào bán đảo này, biết bao cơn lũ tải nước từ thượng nguồn, trước khi đổ ra biển và tràn qua bán đảo này, tưởng dòng nước sẽ cuốn phăng cả ngôi đền cùng với bãi sông tan trong dòng nước. Vậy mà bãi sông vẫn vững, ngôi đền vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Tám trăm năm, đã bao triều đại thay nhau trị vì đất nước, nhưng ngôi đền vẫn được các triều đại trùng tu. Cuộc trùng tu gần đây nhất được thực hiện vào năm 1888 dưới triều đại nhà Nguyễn. Ngôi đền này nằm ở một vùng hẻo lánh, cách xa kinh đô Huế đến 700 cây số, vậy vì cớ gì mà nhà Nguyễn cho trùng tu? Điều kỳ diệu đó khiến ta đặt câu hỏi: “Vị thần được tôn thờ trong ngôi đền này có công gì đối với lịch sử của đất nước”?

Trên đường từ thị trấn Tiên Lãng vào đây, ở thôn Đốc Hậu có nhà thờ Thiên Chúa giáo. Trong thôn này giáo dân đạo Thiên Chúa chiếm nửa số dân. Dấu ấn đó cho phép các nhà làm sử đưa ra nhận định rằng, vùng đất này đã tồn tại một thương cảng. Những dẫn chứng tài liệu nước ngoài, ở thế kỷ XVI-XVII cho biết: các thương nhân Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan ... từng đến vùng đất này để giao thương buôn bán. Các giáo sĩ đạo Thiên Chúa cũng đã đến truyền đạo. Nhiều người dân đã theo đạo. Một câu hỏi lại được đặt ra: Công cuộc giao lưu buôn bán đó có liên quan gì đến vị thần được thờ trong ngôi đền này? Đó cũng là điều làm nên điều kì diệu của ngôi đền.

Đền Gắm xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng thờ một nhân vật lịch sử, Thái phó phụ chính triều nhà Lý – Ngô Lý Tín.

Theo thần tích làng Cẩm Khê viết năm 1938, thì Ngô Lý Tín, sinh ngày 20 tháng 1 năm Bính Ngọ (1126) ở trang Vĩnh Đồng, huyện Khoái Châu, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) con ông Ngô Huy Hiếu và bà Đào Thị Phúc. Năm 12 tuổi, Ngô Lý Tín được cha mẹ cho theo học một thầy đồ nổi tiếng ở Kính Chủ, Hải Dương. Nhờ có tư chất thông minh, lại chăm chỉ, nên thầy rất quý trò. “Thấy dạy không biết chán, trò học không biết mỏi”. Năm 18 tuổi cha mẹ lần lượt qua đời. Lúc bấy giờ trời làm hạn hán, lúa cháy đồng, quan quân nhiễu nhương, trộm cắp nổi lên, đời sống dân quê vô cùng cực khổ. Sau khi mãn tang cha mẹ, Ngô Lý Tín rời quê hương tìm về trang Cẩm Khê, huyện Bình Hà, trấn Hải Dương (nay là thôn Cẩm Khê, xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng) – một mảnh đất bên bờ sông Văn úc, mở trường dạy học, đồng thời luyện tập võ nghệ. Thời kỳ đó vùng đất này là nơi giao lưu buôn bán lớn. Chỉ sau một thời gian, danh tiếng của ông đã nổi tiếng khắp vùng. Cuối triều Lý Anh Tông, năm 1157, trong nước rối loạn, lại có giặc ngoại xâm lấn chiếm biên thuỳ, nhà vua xuống chiếu cầu hiền.

Trước tình hình nguy biến của đất nước, Ngô Lý Tín chiêu tập binh sĩ, riêng trang Cẩm Khê có 30 tuấn kiệt, kéo thẳng lên Bàng Châu xin yết kiến vua Lý Anh Tông. Vua mừng rỡ giao trọng trách cho Ngô Lý Tín. Quân đội của Tín Công đánh đâu thắng đấy, quét sạch giặc ngoại bang ra khỏi đất nước. Năm Nhâm Dần (1182) Tín Công đem quân dẹp tan bọn hải tặc chính ở khúc sông Quán Trang cửa sông Văn úc này. Năm Quý Mão (1183) Lý Cao Tông giao cho Tín Công làm Đốc tướng đi chinh phạt ngoại xâm. Đắc thắng trở về, Tín Công được thăng làm Thái phó, tới năm Mậu Thân (1188), Thái sư Đỗ Thuận An mất, Thái phó Ngô Lý Tín được cử làm Phụ chính. Thật là một điều kỳ diệu. Một người xuất thân dòng dõi bình dân đã ngồi ở vị trí cao nhất của triều đại phong kiến, vốn chỉ dành cho những người thuộc dòng dõi quan lại.

Năm 1190, đất nước sống trong cảnh thanh bình, quan Phụ chính Ngô Lý Tín cùng một đoàn thuyền gia nhân trở về thăm lại trang Cẩm Khê – nơi tướng công đã lập nghiệp và lên đường dẹp giặc, lập chiến công để từ chiến công ấy tướng công đã bước lên chức quan đầu triều. Nhưng thật bất ngờ, một cơn bão bất thần xuất hiện đưa ông về cõi vĩnh hằng. Dòng sông đã đưa xác ông về đúng bãi sông này thì dừng lại. Sự ra đi của ông và sự trở về của ông như đã được sắp đặt từ trước. Đó chẳng phải là điều kỳ diệu hay sao?

Nhân dân thương tiếc đưa ông lên bãi chôn cất. Từ ngôi mộ ông nằm, một gò đất nổi lên, đó chính là nơi vua Lý Cao Tông truyền lệnh xuất 300 quan tiền, miễn sưu thuế phu dịch cho bản trang để lập đền thờ và hơn 800 năm đã qua, lịch sử Việt Nam có ngôi đền thờ một vị tướng có công dẹp giặc - đền Gắm, ngôi đền này ngày 8 tháng 8 năm 1992 được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia.

Thật là kỳ diệu. Ngô Lý Tín lập trang trại ở đây, rồi từ đây mang gươm đi chinh phạt giặc ngoại xâm, dấy quân dẹp hải tặc ở khúc sông này, rồi nằm lại ở đây. Từ ngày đó khúc sông yên ổn, dân làng Cẩm Khê tưởng như uy linh của ông vẫn hiển hiện trừ hải tặc. Nhiều thuyền bè qua đây lên đều cầu đảo xin sự bình yên  đều được linh ứng. Qua chứng cứ lịch sử, chúng ta có thể ước đoán rằng, nơi đây xưa kia, Tiên Lãng có một thương cảng, trên bến dưới thuyền và cùng với thương cảng, bọn hải tặc xuất hiện là lẽ tự nhiên và sự giữ yên bình cho một dòng sông là điều được đặt ra cho mọi thời đại. Nơi đây, tấm lòng của Thượng tướng, Thái phó phụ chính Ngô Lý Tín như vẫn đang sống với dòng sông này, như vẫn đang sống với dân làng.

Năm 1953, giặc Pháp mở trận càn Claude tấn công khu du kích Tiên Lãng, quân Pháp cũng đã từng đổ bộ lên bãi sông này, nhưng chúng không dám xâm phạm ngôi đền. Sau 23 ngày tấn công, giặc Pháp đã phải rút quân. Thời chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tất cả bọn biệt kích, người nhái từ biển vào đây hòng phá hoại các cơ sở của ta, nhưng chúng đều bị quân dân ta bắt gọn.

Ngôi đền tôn thờ tướng công Ngô Lý Tín tồn tại từ thế kỷ thứ XII, bền vững với thời gian, bền vững trong lòng người, quả là điều kỳ diệu. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã về thăm ngôi đền ở nơi hẻo lánh này. Và nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với thành phố Hải Phòng thực hiện dự án Tu bổ, tôn tạo di tích đền Gắm với tổng vốn đầu tư là 21,4 tỷ đồng, để từng bước xây dựng đền Gắm trở thành một di tích lịch sử, một điểm du lịch sinh thái, tâm linh của thành phố và đất nước./.

                                                                                                        Vũ Hoàng Lâm

                       

                                                         

 
Triển lãm mỹ thuật “Mùa xuân 2”

* Triển lãm mỹ thuật “Mùa xuân 2” của 4 hoạ sĩ Đoàn Lê, Cao Nam Tiến, Duy Khánh, Lê Bá Hạnh do Trung tâm Văn hoá nghệ thuật Hải Phòng và Cung Văn hóa lao động hữu nghị Việt Tiệp tổ chức. 54 tác phẩm tranh sơn dầu, bột màu, thuốc nước, khắc gỗ... được trưng bày tại Cung Văn hoá đã thu hút khá đông người xem.  5 năm trước, triển lãm mỹ thuật “Mùa Xuân 1” được tổ chức bởi Trung tâm văn hoá nghệ thuật Hải Phòng và Hội Điện ảnh Truyền hình thành phố tại trụ sở Hội Liên hiệp  Văn học nghệ thuật (VHNT) Hải Phòng. Triển lãm lần này được khai mạc đúng Ngày quốc tế Phụ nữ 8/3. Nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ - Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng, Phó Chủ tịch Hội Nhà báo thành phố; Bà Lê Thu Cúc - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Hải Phòng đã tặng hoa chúc mừng các hoạ sĩ và cắt băng khai mạc Triển lãm mỹ thuật “Mùa Xuân 2” (KN).

Ho_s_on_L_gii_thiu_v_phng_tranh

Hoạ sĩ Đoàn Lê giới thiệu tranh với người xem

                                                                      Ảnh: Vũ Dũng

 
Hội Nhà báo Hải Phòng tổ chức Hội nghị đại biểu

* Hội Nhà báo Hải Phòng tổ chức Hội nghị đại biểu góp ý kiến vào văn kiện Đại hội IX Hội Nhà báo Việt Nam. Với tinh thần trách nhiệm cao, các nhà báo Hải Phòng đã tham gia nhiều ý kiến cụ thể vào dự thảo Báo cáo của Ban chấp hành khoá VIII Hội Nhà báo Việt Nam tại Đại hội và dự thảo sửa đổi Điều lệ Hội Nhà báo Việt Nam. Hội nghị đã bầu đoàn đại biểu đại diện cho giới báo chí Hải Phòng tham dự Đại hội gồm 5 nhà báo: Lê Trọng Nghĩa- Chủ tịch Hội Nhà báo thành phố, Tổng Biên tập Báo Hải Phòng; Tô Hoàng Vũ- Phó Chủ tịch Hội Nhà báo thành phố, Tổng biên tập Tạp chí Cửa biển; Bùi Hoàng Việt- Giám đốc Đài Phát thanh Truyền hình (PTTH) Hải Phòng; Bùi Văn Luyện- Uỷ viên thường vụ Hội, Phó Tổng biên tập Báo An ninh Hải Phòng; Hoàng Thiềng- Chánh Văn phòng Hội Nhà báo thành phố cùng 2 đại biểu dự khuyết là Đặng Kim- Thư ký Chi hội, Trưởng ban Văn hoá xã hội Đài PTTH Hải Phòng; Đặng Tiến- Thư ký toà soạn Báo Hải Phòng (KN).

 
Giải thưởng Khoa học – Công nghệ Hải Phòng lần thứ II

* Giải thưởng Khoa học – Công nghệ Hải Phòng lần thứ II vừa được công bố sau một thời gian bị gián đoạn gồm 1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 3 giải Ba và 7 giải Khuyến khích cho 13 công trình khoa học công nghệ về công nghiệp, thuỷ sản, môi trường, y tế và khoa học xã hội nhân văn. Giải Nhất là công trình  “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp giảm mẫn cảm đặc hiệu trong điều trị bệnh hen phế quản do Dermatophagoides tại Hải Phòng” của PGS.TS Phạm Văn Thức (Viện Y học biển Việt Nam). ở mảng khoa học xã hội nhân văn có các công trình “Tổng tập Đào Công Chính” (giải Ba), “Nhân vật lịch sử Hải Phòng” (giải Khuyến khích) của Ngô Đăng Lợi và cộng sự (Hội Khoa học lịch sử Hải Phòng), “Hải Phòng di tích danh thắng xếp hạng quốc gia” (giải Khuyến khích) của nhóm tác giả Bảo tàng Hải Phòng (HV).

 
«Bắt đầuLùi12Tiếp theoCuối»

Trang 1 của 2
 

Video

Liên kết

bao_hp

 

cung_vntt_thanh_nien_hp
dang_cong_san_vn
thanh_pho_hp

 

Số người online

Hiện có 3 khách Trực tuyến
mod_vvisit_counterHôm nay6
mod_vvisit_counterHôm qua30
mod_vvisit_counterTrong tuần6
mod_vvisit_counterTrong tháng160
mod_vvisit_counterBạn là lượt truy cập7986